Đặt vấn đề Từ lâu, chó là loài vật đã được thuần hóa và coi như là người bạn gần gũi, thân thiện với con người. Khác hẳn với những loài vật khác, chó dễ nuôi, trung thành với chủ, thông minh, nhanh nhẹn và có tính thích nghi cao với điều kiện sống khác nhau. Do vậy, chó được nuôi phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, phục vụ các mục đích khác nhau. Những năm gần đây, nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống dân trí được nâng cao, do vậy việc nuôi chó không những để giữ nhà, mà còn để làm cảnh và làm kinh tế.
Nhiều giống chó ngoại quý hiếm được nhập làm phong phú thêm về số lượng và chủng loại chó ở nước ta. Chó là con vật mang lại nhiều lợi ích cho con người nên được nuôi khá phổ biến ở các địa phương. Khi chó được nuôi nhiều thì vấn đề dịch bệnh xảy ra ở chó cũng ngày càng nhiều hơn. Bên cạnh những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thường gặp ở chó như bệnh dại, bệnh Carê, bệnh do Parvovirus… bệnh do ký sinh trùng cũng gây nhiều thiệt hại cho chó, trong đó có bệnh do giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa gây ra.
Theo Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2009) [2], giun tròn ký sinh lấy chất dinh dưỡng hoặc hút máu làm chó gầy yếu, rối loạn tiêu hóa, giảm sức đề kháng, từ đó các vi khuẩn đường ruột có cơ hội trỗi dậy, gây hội chứng tiêu chảy nặng hơn và làm chết chó nếu không được điều trị kịp thời. Cho đến nay, đã có một số tác giả đề cập đến đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn ở chó như Nguyễn Thị Lê và cs. (1996) [12], Ngô Huyền Thúy (1996) [17], Võ Thị Hải Lê và cs (2012) [13], Dương Đức Hiếu và cs. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về bệnh do ký sinh trùng gây ra chó chưa được quan tâm đúng mức, trong đó có nhiều loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá gây tác hại lớn đối với chó.
Giun ký sinh lấy chất dinh dưỡng, hút 2 máu, tiết độc tố và chất chống đông máu. Bệnh âm ỉ, kéo dài làm vật chủ mất máu suy dinh dưỡng, gầy yếu, rối loạn tiêu hoá, giảm sức đề kháng. Từ đó, các vi khuẩn trong đường ruột có cơ hội trỗi dậy gây hội chứng tiêu chảy nặng hơn và làm chết chó nếu không được điều trị kịp thời. Xuất phát từ những luận giải trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu Xác định được tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa trên chó tại thành phố Thái Nguyên và hiệu quả sử dụng thuốc điều trị. Yêu cầu Xác định được tỷ lệ nhiễm các loài giun tròn đường tiêu hóa trên chó tại các phường, xã của TP. Thái Nguyên Đưa ra được phác đồ điều trị bệnh đạt hiệu quả cao. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học 2. Vị trí và phân loại các loại giun đường tiêu hóa ở chó Theo Nguyễn Thị Lê và cs. (1996) [12], một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của chó có vị trí phân loại như sau: Ngành Nematoda Potts, 1932 Lớp Chromadorca Inglis, 1983 Phân lớp Chromadoria Pearse, 1942 Bộ Rhabditida Chitwood, 1933 Phân bộ Spirurina Raillient and Henry, 1915 Liên họ Ascaridoidea Baird, 1853 Họ Ascarididae Baird, 1853 Giống Toxascaris Leiper, 1907 Loài Toxascaris leonina Linstow, 1902 Giống Toxocara Stiles, 1905 Loài Toxocara canis Werner, 1782 Liên họ Stronggyloidea Baird, 1853 Họ Ancylostomatidae Looss, 1905 Phân họ Ancylostomatinae Looss, 1911 Giống Ancylostoma Dubini, 1893 Loài Ancylostoma caninum Ercolani, 1859 Bộ Rhabditida chitwood, 1933 Phân bộ Spirurina Railliet and Henry, 1915 Liên họ Spiruroidea Railliet et Henry, 1915 Họ Spirocercidae Chitwood and Wehr, 1932 Giống Spirocerca Railliet et Henry, 1911 Loài Spirocerca lupi Rudolphi, 1809 4 2. Đặc điểm sinh học một số loài giun tròn ký sinh đường tiêu hóa chó 2.
Đặc điểm hình thái, cấu tạo của các loại giun tròn đường tiêu hóa ở chó - Loài Toxocara canis (werner 1782) Loài Toxocara canis là loài giun tròn đường tiêu hóa có màu vàng nhạt, đầu hơi cong về phía bụng, môi của loài này mọc nhiều răng nhỏ, có 3 môi bao quanh miệng. Loài này có kích thước lớn: Con đực dài 5- 10 cm , đầu có cánh dài, hẹp, hơi giống mũi giáo có 2 gai giao cấu bằng nhau dài 0,75 - 0,95 mm. Con cái dài 9- 18cm, đuôi thẳng. Trứng gần như tròn, vỏ trứng lỗ chỗ như tổ ong đường kính (0,068- 0,075 mm).
- Loài Toxascaris leonina (Linstow, 1902). Loài Toxascaris leonina Có màu vàng nhạt, cánh đầu rất hẹp hơi con về lưng, đầu có 3 môi, thực quản hình trụ. Giun đực dài 2-8 cm, có 2 gai giao hợp. Giun cái dài 6,5- 9,5 cm, lỗ sinh dục cái ở phía trước thân, tử cung chia làm 2 nhánh, Trứng gần như tròn, đường kính từ 0,075- 0,085 mm vỏ trứng nhẵn, dày, phẳng.
- Loài Spirocerca lupi (Rudolphi, 1809) Giun trưởng thành cũng rất nhỏ: Con đực dài 3-5,4 cm, Phần tuyến dài 4,24- 8,61mm. Đuôi dài mút đuôi có cánh bên, có 4 đôi núm trước huyệt và 2 đôi sau huyệt. Xong vẫn còn 1 nút đơn và 5 núm nhỏ khác ở trước lỗ huyệt. Con cái dài 6 - 9 cm, âm hộ nằm phía trước thân, gần cuối thực quản.
Trứng 0,035 - 0,039 x 0,014 - 0,023mm, trứng rất nhỏ, hình elip. 5 Giun có miệng hình 6 cạnh, không có môi, thực quản hẹp, phần trước là cổ ngắn, ở gai cố có vòng thần kinh, giun có màu đỏ. Con đực dài 3-6 cm, hai gai giao hợp không bằng nhau, đuôi xoắn, có cánh đuôi, 4 đôi gai nhỏ phía trước hậu môn, một gai lớn trước huyệt. Giun có miệng hình 6 cạnh, không có môi, thực quản hẹp, phần trước là cổ ngắn, ở gai cố có vòng thần kinh, giun có màu đỏ.
- Loài Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859) Giun màu vàng nhạt, đoạn trước cong về phía lưng, hình dáng tròn nhỏ, thân hình sợi chỉ, miệng hình bầu dục. Con đực dài 1- 1,5 cm, đuôi có túi kitin, 2 gai giao hợp bằng nhau dài 0,74- 0,87 mm, bánh lái dài 0,13 - 0,21 mm. Con giun cái dài 1 – 2,1 cm, đuôi có gai nhọn. Trứng hình bầu dục dài 0,06 - 0,066 mm, rộng 0,037- 0,042 mm.
Trứng có nhiều nhân, vỏ trong suốt. Chu kỳ sinh học của giun tròn đường tiêu hóa trên chó - Loài Ancylostoma caninum (Ercolani, 1859) 6 Giun trưởng thành ký sinh ở niêm mạc ruột non. Giun cái mỗi ngày đẻ ra 10. 2-8 tế bào nhân là số tế bào khi trứng mới ra ngoài môi trường, Gặp môi trường thuận lợi ấu trùng phát triển thành ẩu trùng cảm nhiễm.
Để trở thành ấu trùng cảm nhiễm ấu trùng giun móc phát triển qua 3 giai đoạn chính. Chu kỳ trong vật chủ dứt khoát rất giống với chu kỳ của loài người, liên quan đến việc di chuyển khí quản đến ruột non. Một số ấu trùng bị bắt giữ trong các mô và đóng vai trò là nguồn lây nhiễm cho chó con thông qua các tuyến xuyên vú (và có thể là xuyên nhau thai). Giun móc trưởng thành sinh sản trong ruột non và trứng được truyền vào phân của vật chủ xác định động vật và trong điều kiện thuận lợi (độ ẩm, độ ấm, bóng râm), ấu trùng nở sau 1 đến 2 ngày.
Ấu trùng rhabditiform được thả ra phát triển trong phân và trong đất , và sau 5 đến 10 ngày chúng trở thành ấu trùng filariform (giai đoạn thứ ba) có khả năng lây nhiễm. Ấu trùng Ancylostoma caninum có vòng đời như sau : Vòng đời của giun móc 7 - Xâm nhập qua đường tiêu hoá: ký chủ nuốt phải ấu trùng vào đường tiêu hoá qua thức ăn, nước uống. ấu trùng lột xác và sau một thời gian ở trong ruột, sau đó di hành thì phát triển thành giun trưởng thành. - Xâm nhập qua da: ấu trùng cảm nhiễm xâm nhập qua da làm xuất hiện các chấm hay các vệt màu đỏ sau khi vào hệ thống tuần hoàn ấu trùng di hành qua tim, phổi, vào phế quản lên hầu và xuống đường tiêu hoá, cuối cùng trưởng thành và ký sinh ở ruột non.
Thời gian phát triển đến giai đoạn trưởng thành khoảng 13- 17 ngày. Tỷ lệ chó nhiễm giun móc cao nhất ở lứa tuổi 3-12 tháng chiếm 50%, kế đến là độ tuổi 1 - 2 tháng tỷ lệ nhiễm bệnh là 30%, chó trên 12 tháng tỷ lệ nhiễm thấp nhất 20%. - Loài Toxocara canis (werner 1782) Giun cái trưởng thành ký sinh trong dạ dày, ruột non và đẻ trứng. Trứng giun được thải ra môi trường qua phân, và nếu có điều kiện ngoại cảnh thích hợp (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng), trứng sẽ phát triển thành ấu trùng.
Khi chó ăn hoặc uống, ấu trùng cảm nhiễm xâm nhập vào đường tiêu hoá, phá vỡ vỏ trứng và đi qua các cơ quan trong cơ thể. 8 Ấu trùng tiếp tục sử dụng chất dinh dưỡng của cơ thể và phát triển trong niêm mạc ruột non, trở thành giun trưởng thành gây bệnh. Một số ấu trùng cũng có thể đi vào các tổ chức cư trú khác và gây nhiễm khi các động vật khác ăn phải chúng. H, 1935) [34] phát hiện ra rằng : chỉ đặc biệt, như trong các trường hợp nhiễm rất nặng, ấu trùng Toxocaris mới di chuyển qua gan và phổi.
Ấu trùng lây nhiễm (giai đoạn 2), nở thường dành 9 hoặc 10 ngày trong hầm mộ Lieber-kühn của tá tràng dưới, sau đó ấu trùng giai đoạn 3 xuất hiện. - Loài Spirocerca lupi (Rudolphi, 1809) Nguyễn Thị Lê và cs. (1996) [11] cho biết: Vòng đời của Spirotera lupi liên quan đến nhiều vật chủ trung gian. lupi ký sinh ở đường tiêu hóa chó là phát triển gián tiếp, chó là ký chủ cuối cùng của giun giúp giun hoàn thành vòng đời và ký sinh ở giai đoạn thành thục.
Đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở chó Để phòng trị bệnh ký sinh trùng một cách tốt nhất ta phải có cái nhìn bao quát nhất về dịch tễ học nên việc nghiên cứu về nó là cần thiết. Các tác giả như Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh (1978) [16], Đỗ Hài (1972) [4], Phạm Sĩ Lăng (1985) [9], Phạm Văn Khuê (1993) [6], Phan Lục, 9 Đào Hữu Thanh, Đoàn văn Phúc, Ngô Huyền Thuý (1996) [17] là những người đầu tiên nghiên cứu về dịch tễ do giun tròn đường tiêu hóa ở chó. - Yếu tố thời tiết, khí hậu và mùa vụ. Điều kiện thời tiết khí hậu của một vùng, một khu vực có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của trứng giun tròn ở ngoài ngoại cảnh, sự phát triển của các ký chủ trung gian và ký chủ cuối cùng.