ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là quốc gia có vị trí địa lý trải dài trên nhiều vĩ tuyến, khí hậu nhiệt đới ẩm, địa hình phức tạp đã tạo nên sự đa dạng sinh học cao về các loài động thực vật. Nguồn tài nguyên thú đã đóng góp rất lớn cho sự đa dạng này với 322 loài thuộc 43 họ và 15 bộ (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Khu hệ thú đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng, chúng ảnh hƣởng đến cấu trúc của thảm thực vật, chu trình dinh dƣỡng và thành phần loài. Tuy nhiên những năm gần đây, tình trạng khai thác trái phép tài nguyên rừng nhƣ khai thác gỗ, săn bắn, khai thác lâm sản, lấn chiếm đất rừng ở tất cả các địa phƣơng trong cả nƣớc đang làm suy giảm nghiêm trọng tài nguyên đa dạng sinh học nói chung và tài nguyên thú nói riêng.
Các loài thú có giá trị là đối tƣợng bị săn bắt nhiều nhất để phục vụ các mục đích của con ngƣời. Thực tiễn này đã dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài nhƣ Heo vòi (tapirus pinchaque),Tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus), Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Gấu chó (Ursus malayanus)…và còn rất hiện đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng ở mức độ rất cao đƣợc liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam (2007). Trƣớc sự suy giảm nghiêm trọng của nguồn tài nguyên rừng của quốc gia, Chính phủ nƣớc ta đã có rất nhiều chính sách nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên nhƣ thành lập gần 200 khu rừng đặc dụng trong cả nƣớc để bảo vệ nguồn tài nguyên hiện có, thành lập các trung tâm cứu hộ, vƣờn thực vật, ngân hàng hạt giống. Các văn bản pháp luật nhƣ Luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004), Luật Đa dạng sinh học (2008), Nghị định 32 (2006), Nghị định 160 (2013) hoặc các văn bản về xử phạt vi phạm hành chính nhƣ Nghị định 157 (2013), Bộ luật hình sự số 15 (1999) bổ sung và sửa đổi năm 2009 cũng là những biện pháp cứng rắn nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác rừng trái phép.
Mặc dù vậy, do sự quản lý không chặt chẽ đồng bộ, ý thức tƣ lợi của cá 1 nhân nên việc mất mát về loài không ngừng suy giảm, có nhiều loài biến mất trƣớc khi con ngƣời tìm ra lợi ích mà chúng mang lại. Nằm trong hệ thống các khu rừng đặc dụng phía Đông Bắc của Việt Nam, Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Tây Yên Tử (thuộc xã Thanh Sơn, huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang) đƣợc đánh giá là một trong những Khu Bảo tồn có tính đa dạng sinh học cao với 226 loài, 81 họ, 34 bộ động vật (Luận chứng kinh tế kỹ thuật thành lập KBTTN Tây Yên Tử, 2002). Trong đó, khu hệ thú đƣợc ghi nhận ở khu vực có 16 loài nguy cấp, quý, hiếm cần ƣu tiên bảo tồn. Tuy vậy các công trình nghiên cứu về khu hệ động vật và đặc biệt là khu hệ thú tại đây còn rất nhiều hạn chế.
Xuất phát từ thực tiễn trên và niềm đam mê, ham học hỏi về công tác bảo tồn động vật hoang dã, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá giá trị bảo tồn của khu hệ thú và hiện trạng công tác quản lý tài nguyên động vật hoang dã tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, xã Thanh Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm cung cấp những thông tin cơ bản về thành phần loài, phân bố, giá trị khoa học và các mối đe dọa tới Khu hệ thú tại KBT Tây Yên Tử là cơ sở để đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ hiệu quả các loài thú trong khu vực nghiên cứu. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tài nguyên thú ở Việt Nam 1.1 Thành phần các loài thú Tài nguyên thú ở Việt Nam đa dạng với 322 loài thuộc 43 họ 15 bộ ( Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009) (Xem bảng 1.1 Bảng tổng hợp và phân loại lớp thú TT Tên Việt Nam Tên khoa học Họ Loài 1 Bộ có vòi Proboscidea 1 1 2 Bộ Bò Nƣớc Sirenia 1 1 3 Bộ Nhiều Răng Scandentia 1 2 4 Bộ Linh Trƣởng Primates 3 23 5 Bộ Cánh Da Dermoptera 1 1 6 Bộ Thỏ Lagomorpha 1 3 7 Bộ Chuột Voi Erinaceomorpha 1 2 8 Bộ Chuột Chù Soricomorpha 2 22 9 Bộ Dơi Chiroptera 7 113 10 Bộ Tê Tê Pholidota 1 2 11 Bộ Ăn Thịt Carnivora 7 39 12 Bộ Móng Guốc Ngón Lẻ Perrisodactyla 2 3 13 Bộ Móng Guốc Ngón Chẵn Artiodactyla 5 20 14 Bộ Cá Voi Cetacea 4 22 15 Bộ Gặm Nhấm Rodentia 6 68 Tổng 15 43 322 Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009).
Trong danh sách bộ thú ở Việt Nam, bộ Dơi có sự đa dạng nhất với 113 loài chiếm 35% tổng số loài thú ở nƣớc ta. Sự đa dạng của bộ Dơi liên quan 3 đến sự thích nghi ở nhiều môi trƣờng sống khác nhau trong khi các bộ nhƣ bộ Có vòi, bộ Bò nƣớc, bộ Cánh da lại kém đa dạng (chỉ có duy nhất một loài). Các bộ có sự đa dạng khác có thể kể đến nhƣ bộ Gặm nhấm 68 loài (chiếm 21,1%), bộ Ăn thịt với 39 loài (chiếm 12,1%). Giá trị của nguồn tài nguyên thú Cũng giống nhƣ các nguồn tài nguyên động vật khác nguồn tài nguyên thú có giá trị về bảo tồn, kinh tế, sinh thái và phục vụ nghiên cứu khoa học và giáo dục.
Giá trị bảo tồn: Hiện nay, số lƣợng các loài thú đang suy giảm nghiêm trọng. Đã có 418 loài thú đƣợc liệt kê trong sách đỏ Việt Nam (2007) trong đó có 5 loài bị tuyệt chủng hoàn toàn đó là Tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus), Tê giác hai sừng (Dicerorhinus sumatrensis), Cầy rái cá (Cynogale lowei), Heo vòi (Tapirus pinchaque), Bò xám (Bos sauveli), 01 loài bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên là loài Hƣơu sao (Cervus nippon), 12 loài đang rất nguy cấp(CR): Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea), Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus),Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus), Báo hoa mai (Panthera pardus). Số loài nguy cấp (EN) là 30 loài, số loài sẽ nguy cấp (VU) là 30 loài, số loài ít nguy cấp là 5 loài, số loài còn thiếu số liệu xếp bậc là 8 loài. Trong văn bản pháp luật của chính phủ Việt Nam(Nghị định chính phủ 32/2006/NĐ-CP đang bảo vệ 73 loài thú quý hiếm trong đó có 47 loài cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thƣơng mại nhóm IB đó là các loài: Voọc xám (Trachypithecus barbei),Vƣợn đen má hung (Nomascus gabriellae), Voọc mũi hếch (Rhinophithecus barbei)…, 26 loài thú đƣợc xếp vào nhóm IIB:Khỉ mốc (Macaca assamesis), Khỉ đuôi lợn (Macaca leonina), Khỉ vàng(Macaca mulatta), Cáo lửa (Vulpes vulpes)… Giá trị kinh tế: Tài nguyên thú ở Việt Nam có giá trị to lớn về kinh tế vào sự phát triển kinh tế của nƣớc nhà đƣợc thể hiện trên 4 khía cạnh: 4 Thứ nhất là nguồn thức ăn: Từ khi loài ngƣời mới xuất hiện trên trái đất thì nguồn thức ăn chính cho con ngƣời là các sản phẩm tự nhiên thu đƣợc từ săn bắt động vật và hái lƣợm.
Nhiều loài động vật đã đƣợc con ngƣời sử dụng làm thức ăn trong cuộc sống hàng ngày. Nhiều loài động vật đƣợc con ngƣời thuần hoá, nuôi dƣỡng qua nhiều thế hệ tạo thành hàng ngàn,hàng vạn những giống gia súc, gia cầm. Không những vậy hiện nay vẫn còn nhiều dân tộc thiểu số sống ở vùng rừng dựa vào nguồn thực phẩm từ săn bắn để tồn tại. Thứ hai là nguồn cung cấp nguyên liệu cho tiểu thủ công nghiệp: Các sản phẩm có nguồn gốc từ thú nhƣ da (hổ, da báo, cầy…) lông(cừu, thỏ, sóc, gấu…) đƣơc sử dụng rộng rãi.
Trong công nghiệp dệt may tạo các mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Mật gấu, xạ hƣơu, nhung hƣơu, ngà voi, sừng tê giác…là những dƣợc liệu quý phục vụ sản xuất thuốc chữa bệnh hoặc những chế phẩm vi sinh. Giá trị về sinh thái: Động vật nói chung và các loài thú nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ sinh thái. Tất cả các động vật là một phần của mạng lƣới thức ăn phức tạp, cân bằng một cách tinh vi gọi là sinh quyển.
Ngƣợc lại, sinh quyển của Trái Đất đƣợc tạo nên bởi vô số các hệ sinh thái bao gồm các loài động thực vật và môi trƣờng sống tự nhiên của chúng. Nếu một mắt xích trong hệ sinh thái bị mất đi thì sẽ ảnh hƣởng vô cùng đến các mắt xích khác. Phục vụ nghiên cứu khoa học và giáo dục: Đây là vai trò rất quan trọng của động vật đối với con ngƣời, nó liên quan trực tiếp đến cuộc sống thƣờng ngày của chúng ta. Thông qua động vật, nhất là các loài có cấu tạo cơ thể gần giống con ngƣời, chúng ta có thể tiến hành các nghiên cứu khoa học với mục đích phục vụ đời sống ngày một tốt hơn.
Con ngƣời đã học đƣợc nhiều điều từ động vật: chế tạo thành công máy bay khi quan sát, phân tích các chuyển động bay từ chim, chế tạo nhiều loại thuốc chữa bệnh trên cơ sở đã thử nghiệm trên cơ thể động vật có cấu tạo cơ thể gần giống ngƣời, đƣa 5 động vật ra thám hiểm ngoài không gian rồi làm tiền đề để đƣa con ngƣời lên vũ trụ, sử dụng các loại động vật để tiến hành phẫu thuật ở các trƣờng đại học…( Đỗ Quang Huy, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Đồng Thanh Hải và Nguyễn Đắc Mạnh, 2009) 1. Các mối đe dọa đến khu hệ thú Mối đe dọa đến khu hệ thú nói riêng và khu hệ động vật nói chung là săn bắt và phá hủy sinh cảnh sống. *Mối đe dọa và mất sinh cảnh sống: những tác động của con ngƣời đến sinh cảnh sống của các loài thú là mối đe dọa lớn đến tính đa dạng sinh học của tự nhiên và làm suy giảm nguồn gen động thực vật quý hiếm, từ đó dẫn đến môi trƣờng sống bị tàn phá và ảnh hƣởng đến cuộc sống của nhân loại. Trần Duy Rƣơng (2001), sử dụng “ Phƣơng pháp vạch tuyến điều tra tác động của con ngƣời lên hệ động thực vật và ƣớc lƣợng khoảng cách điều tra ở VQG Bến En” Bằng cách lập tuyến điều tra tác động theo đƣờng mòn hƣớng từ làng vào rừng với khoảng cách từ 120m đến 150m, trên các khoảng cách đó có ghi chép các dấu vết tác động của con ngƣời và vật nuôi lên sinh cảnh.
Kết quả cho thấy, ở một số xã thuộc huyện Nhƣ Thanh nằm trong vùng đệm và nằm trong VQG Bến En, thì những tác động của con ngƣời ở mức phổ biến.