phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chƣơng: - Chƣơng 1: Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trong bối cảnh văn học thời kỳ đổi mới. - Chƣơng 2: Đời sống và chân dung tinh thần của ngƣời trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng. - Chƣơng 3: Nghệ thuật thể hiện nhân vật ngƣời trí thức của Ma Văn Kháng. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG TRONG BỐI CẢNH VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI 1.
Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới: 1. Bối cảnh lịch sử xã hội, văn hóa: Mƣời năm sau giải phóng miền Nam, tuy đã có những nỗ lực đáng kể trong công cuộc khôi phục phát triển kinh tế, văn hóa nhƣng về cơ bản đất nƣớc ta vẫn là một nƣớc nghèo nàn kém phát triển, đời sống nhân dân rất thấp, nhiều vấn đề phức tạp trong đời sống nảy sinh. Làm thế nào để có một nền kinh tế phát triển, một nền văn hóa tiên tiến để có thể hội nhập với thế giới đang là một vấn đề cấp thiết đặt ra. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 diễn ra nhƣ một yêu cầu tất yếu của lịch sử.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và nghiêm túc phê phán, đại hội đã chỉ rõ những nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển, trên cơ sở đó, đồng chí tổng bí thƣ Nguyễn Văn Linh đã có những chủ trƣơng đổi mới mang tính đột phá. Ông kêu gọi “đổi mới tƣ duy” và thực hiện “những việc cần làm ngay” để đổi mới trên cả lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa. Trong quá trình từng bƣớc đổi mới, chúng ta dần dần đạt đƣợc những mục tiêu lớn với một nền chính trị ổn định, kinh tế ngày một phát triển, đời sống ngƣời dân đƣợc nâng cao một cách rõ rệt, văn hóa ngày càng phát triển gần gũi với các nền văn hóa tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc thì trong thực tế phát triển đã nảy sinh không ít những vấn đề phải quan tâm.
Nếu nhƣ ở thời kỳ mƣời năm áp dụng chế độ quản lý tập trung bao cấp làm nảy sinh thói quan liêu trong giới lãnh đạo, bệnh thành tích, bệnh ăn cắp của công rút ruột công trình, cách nhìn lý lịch để đánh giá con ngƣời, lề lối làm việc máy móc thì đến thời kỳ cải cách mở đó là lối sống thực dụng, cơ hội, chạy theo những cái hào nhoáng bên ngoài, sự tiếp thu tràn lan những cái phản văn hóa… trở thành vấn đề đáng lo ngại. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện thực cuộc sống thời kỳ đổi mới với rất nhiều những vấn đề phức tạp bề bộn của nó đã và đang trở thành mảnh đất màu mỡ cho văn học khai thác và làm nên những thành tựu mới. Toàn cảnh văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới: Văn học Việt Nam thời kỳ sau chiến tranh có thể tạm thời chia làm hai giai đoạn: 1975-1985, 1986 đến nay. Giai đoạn 1975- 1985 là giai đoạn khởi động của văn học thời kỳ đổi mới.
Gọi là giai đoạn khởi động vì nếu chỉ nhìn bề ngoài thì văn học dƣờng nhƣ vẫn vận động theo quán tính của văn học thời chiến tranh. Đề tài chiến tranh lúc này vẫn là đề tài cơ bản của văn học và đƣợc thể hiện chủ yếu theo khuynh hƣớng tổng kết, khái quát về chiến tranh thông qua sự trải nghiệm của mỗi nhà văn nhà thơ trong suốt những năm trực tiếp cầm súng. Thơ ca chƣa có nhiều đổi mới nên không tạo đƣợc sự hấp dẫn lôi cuốn nhƣ thơ ca thời kỳ chống Mỹ. Những tác phẩm đƣợc quan tâm không nhiều.
Đáng chú ý hơn cả có: Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Đường tới thành phố và Thư mùa đông của Hữu Thỉnh, Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu, Tự hát của Xuân Quỳnh, Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhi, Ánh trăng của Nguyễn Duy, Xúc sắc mùa thu của Hoàng Nhuận Cầm, Nhà thơ và hoa cỏ của Trần Nhuận Minh, Gọi nhau qua vách núi của Thi Hoàng… Có một số cây bút xuất hiện sau năm 1975 đang từng bƣớc khẳng định đƣợc vị trí, tiêu biểu có Y Phƣơng với tập Tiếng hát tháng giêng, Nguyễn Quang Thiều với Sự mất ngủ của lửa… Văn xuôi có nhiều khởi sắc hơn thơ ca, các nhà văn đã thể hiện đƣợc cái nhìn mới khi tiếp cận hiện thực. Tiêu biểu có Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Hai người trở lại trung đoàn của Thái Bá Lợi, Đứng trước biển và Cù lao tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Cha và con và… và Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải, Mưa mùa hạ và Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thời xa vắng của Lê Lựu, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và Bến quê của Nguyễn Minh Châu… Văn học dịch thời kỳ này rất phát triển. Nó đã đem đến cho độc giả Việt Nam những tác phẩm đặc sắc nhất thuộc các trƣờng phái nghệ thuật khác nhau của các tác gia châu Âu và châu Mỹ đƣơng đại cùng một số công trình nghiên cứu lý luận mới của phƣơng Tây. Việc tiếp thu các thành tựu lý luận phƣơng Tây đã đem đến cho cả ngƣời đọc, ngƣời sáng tác và ngƣời nghiên cứu những góc nhìn mới hơn về nghệ thuật.
Các nhà văn đã từng sáng tác ở giai đoạn trƣớc nhận ra rằng nếu viết nhƣ cũ họ sẽ dần dần đánh mất độc giả. Vì vậy, đổi mới là nhu cầu cấp thiết lúc này. Giai đoạn từ 1986 đến nay là giai đoạn văn học chính thức bƣớc vào chặng đƣờng đổi mới (nó diễn ra đồng thời với sự đổi mới trên các lĩnh vực nghệ thuật khác nhƣ hội họa, âm nhạc, sân khấu điện ảnh…). Văn học dịch vẫn phát triển nhƣng hoạt động lý luận phê bình lại vƣợt lên phía trƣớc giữ vai trò là nhân tố mở đƣờng cho văn học phát triển.
Từ đó, hoạt động lý luận phê bình và hoạt động sáng tác của các nhà văn nhà thơ giữ vị trí quan trọng nhất trong công cuộc đổi mới văn học. Nghị quyết 05 về phê bình văn học của Bộ Chính trị đƣợc giới văn nghệ sĩ đón nhận một cách vô cùng nồng nhiệt. Trên tờ Văn nghệ, cơ quan ngôn luận của Hội nhà văn việt Nam (số 49-50, ra ngày 05/12/1987), Nguyễn Minh Châu đã cho in bài phát biểu nổi tiếng Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa. Bài báo là tuyên ngôn lý thuyết thể hiện tinh thần đổi mới văn học một cách hết sức triệt để của giới sáng tác.
Những vấn đề tƣởng nhƣ đã cũ nay cũng đƣợc giới phê bình đem ra bàn bạc với tinh thần đổi mới. Do vấn đề đổi mới tƣ duy, phƣơng châm nhìn thẳng vào sự thật đƣợc coi trọng, phóng sự có điều kiện phát triển mạnh mẽ và thu hút đƣợc sự chú ý của độc giả. Các cây bút phóng sự đƣợc dƣ luận quan tâm lúc này là Phùng Gia Lộc, Trần Huy Quang, Hoàng Hữu Các, Trần Khắc, Hoàng Minh 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tƣờng… Văn xuôi có nhiều khởi sắc với với những tác phẩm đạt giá trị nghệ thuật cao nhƣ tập truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa và Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trƣờng, Bến không chồng của Dƣơng Hƣớng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Thơ ca cũng có nhiều bƣớc đột phá mới với các tên tuổi nhƣ Thanh Thảo, Ý Nhi, Nguyễn Duy, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thƣ, Ly Hoàng Ly… Thể ký cũng có những thành công nhất định với các tên tuổi nhƣ Hoàng Phủ Ngọc Tƣờng, Tô Hoài… Kịch nói cũng rất phát triển.
Các tên tuổi đƣợc nhắc đến ở thời kỳ này có: Hồng Phi, Doãn Hoàng Giang, Võ Khắc Nghiêm, Nguyễn Quang Lập, Xuân Trình, Lƣu Quang Vũ… Lý luận, nghiên cứu, phê bình cũng có những bƣớc đổi mới do đƣợc tiếp cận với nền lý luận của phƣơng Tây. Ngoài những cây bút đã thành danh từ giai đoạn trƣớc đã xuất hiện nhiều cây bút mới có nhiều triển vọng. Công cuộc đổi mới văn học cho đến nay vẫn đang tiếp tục vì thế chƣa có một công trình nghiên cứu một cách khoa học và tổng thể về giai đoạn này. Tuy nhiên, nhận định một cách chung nhất, văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới đã có nhiều bứt phá so với giai đoạn văn học kháng chiến và bƣớc đầu đã có những thành tựu đƣợc ghi nhận, trong đó quan trọng nhất là đổi mới cái nhìn hiện thực và con ngƣời của nhà văn.
Ma Văn Kháng là một trong những tên tuổi thành công nhất trong thời kỳ văn học đổi mới. Ngƣời đọc biết đến ông ở cả thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới: 1. Sự thay đổi đề tài sáng tác: Theo dọc hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy thời kỳ đầu sáng tác nhà văn đặc biệt quan tâm đến đề tài miền núi.
Hai tác phẩm nổi tiếng cho đề tài này là Đồng bạc trắng hoa xòe và Vùng biên ải. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe (viết năm 1972 nhƣng mãi đến 1979 mới ra mắt độc giả) là tác phẩm viết về cuộc sống của đồng bào Mèo vùng đất Lao Kay (Lào Cai ngày nay) và công tác cách mạng ở vùng đất này thời kỳ những năm 1945- 1947. Tác phẩm tái hiện một giai đoạn lịch sử ngắn ngủi nhƣng rắc rối vào bậc nhất của cách mạng Việt Nam hiện đại, đặc biệt lại ở một “vùng núi phong kiến thế tập phiên thần nghèo nàn và lạc hậu”. Pháp vào, Nhật chiếm, Nhật rút, Quốc dân đảng vào, Quốc dân đảng thua, chính quyền nhân dân thành lập.
Trong tác phẩm này, nhà văn không chỉ thành công với việc xây dựng hình tƣợng oai hùng của những ngƣời cách mạng đi tiên phong mà còn rất thành công trong việc tái hiện cuộc sống của nhân dân Mèo thời kỳ bị bao bọc trong bóng tối. Vùng biên ải (sáng tác trong khoảng thời gian từ 1975 đến năm 1980) viết về cuộc cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp của ngƣời dân vùng đất Lao Kay. Tuy mang một tên khác nhƣng ngƣời đọc vẫn nhận ra nó chính là tập 2 của Đồng bạc trắng hoa xòe. Các nhân vật đã từng xuất hiện trong Đồng bạc trắng hoa xòe lại tiếp tục xuất hiện ở đây, tiếp tục đời sống của họ và có những lúc va chạm nhau nẩy lửa.
Tác phẩm tiếp nối các sự kiện xảy ra trong Đồng bạc trắng hoa xòe.