Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Giai đoạn văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 là thời kỳ chuyển giao lịch sử và văn hóa đầy biến động, khi xã hội Việt Nam tiếp xúc với văn hóa phương Tây dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Trong tiến trình vận động này, diện mạo văn học có sự phát triển phong phú về hệ thống thi pháp và kiểu hình tượng nhân vật. Nếu như trong văn học trung đại truyền thống, người phụ nữ thường xuất hiện dưới các vai mẫu mực hoặc bi kịch gắn liền với đạo đức Nho giáo (người mẹ, người vợ, cung nhân, chinh phụ, liệt nữ), thì ở giai đoạn giao thời này, hình tượng người phụ nữ thị dân hoạt động trong môi trường nghệ thuật và dịch vụ giải trí — tiêu biểu là cô đầu — đã bước vào trang viết một cách đông đảo, trực diện và phức tạp.
Hình tượng cô đầu phản ánh sự va đập giữa các chuẩn mực văn hóa truyền thống và lối sống đô thị mới, tạo nên sự phân hóa rõ nét trong cảm hứng sáng tác của giới văn nhân. Xuất phát từ thực tiễn học thuật và yêu cầu đổi mới dạy học văn học dân tộc, tác giả Nguyễn Minh Dương đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Sư phạm Ngữ văn với đề tài: "Nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 (Qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu)".
Về mục tiêu nghiên cứu, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ trọng tâm:
- Tái hiện và phân tích toàn diện chân dung nhân vật cô đầu cùng nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật này qua sáng tác của các tác giả tiêu biểu, qua đó phản ánh bối cảnh lịch sử - xã hội và thái độ của các nhà văn, nhà thơ thời kỳ biến động.
- Khẳng định vị trí, vai trò của hình tượng nhân vật cô đầu trong dòng văn học tài tử - giai nhân nói riêng và tiến trình văn học Việt Nam nói chung.
- Cung cấp hệ thống tư liệu về nguồn gốc, đặc điểm, các giai đoạn phát triển của nghệ thuật ca trù gắn liền với đời sống và tâm lý của người kỹ nữ ca trù.
- Đề xuất định hướng ứng dụng vào việc dạy học đọc - hiểu các văn bản viết về cô đầu và thể loại hát nói trong chương trình môn Ngữ văn ở trường phổ thông.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 qua các phương diện nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện.
- Phạm vi khảo sát tác giả: Tập trung khảo sát chuyên sâu tác phẩm của 5 tác giả tiêu biểu gồm Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Trần Tế Xương (Tú Xương), Dương Tự Nhu và Nguyễn Khắc Hiếu (Tản Đà).
- Phạm vi tư liệu: Khảo sát mở rộng các sáng tác của 19 tác giả trong công trình Việt Nam ca trù biên khảo (Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề), đồng thời liên hệ đối sánh với hình tượng cô đầu/ả đào trong văn học các giai đoạn thế kỷ XV – XVIII, giai đoạn 1930 – 1945 và văn học sau 1945.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành văn học và âm nhạc học truyền thống:
- Khái niệm nhân vật văn học: Dẫn chiếu theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân) và Giáo trình lý luận văn học tập 2 (Trần Đình Sử chủ biên). Nhân vật văn học được xác định là hình tượng nghệ thuật về cá thể con người được nhà văn nhận thức, tái tạo bằng phương tiện ngôn từ, mang quan niệm nghệ thuật về con người và không đồng nhất tuyệt đối với con người thực tế ngoài đời sống.
- Khái niệm và tên gọi cô đầu: Khảo cứu các định nghĩa của Hoàng Phê, Nguyễn Xuân Diện (Ca trù phía sau đàn phách), Nguyễn Đức Mậu (Ca trù nhìn từ nhiều phía), Nguyễn Hoàng Anh Tuấn (Vai trò của ca nương trong nghệ thuật ca trù) và nhận định của Vũ Bằng. Bản chất "cô đầu" là chức danh của nữ nghệ nhân hát ca trù (vừa hát vừa gõ phách), vốn có nguồn gốc từ các tên gọi cổ như đào nương, ả đào, cô đào. Danh xưng "cô đầu" bắt nguồn từ tập tục nộp "tiền đầu" (khoản tiền môn sinh trích biếu sư phụ dạy nghề khi đã thành danh), dùng từ "cô" thay cho "ả" để tăng sự trang trọng và "đầu" thay cho "đào" nhằm tán tụng bậc danh ca lão luyện đã mở quán truyền nghề.
- Nguồn gốc lịch sử - truyền thuyết: Tiếp cận nguồn gốc ca trù qua truyền thuyết tổ nghề Đinh Lễ – Bạch Hoa công chúa (tại Cổ Đạm, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) và Đinh Dự – Đường Hoa công chúa (tại Lỗ Khê, Đông Ngàn, Kinh Bắc); kết hợp các cứ liệu thư tịch cổ như Đại Việt sử ký toàn thư (sự kiện năm 1025 về ca nhi họ Đào thời Lý), Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sỹ và Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ:
- Phương pháp lịch sử: Đặt sự biến chuyển của hình tượng cô đầu trong mối tương quan với các chặng đường biến thiên của nghệ thuật ca trù và hoàn cảnh xã hội Việt Nam từ trung đại sang cận - hiện đại.
- Phương pháp thống kê: Phân loại, định lượng số lượng tác giả, tác phẩm viết về cô đầu; thống kê cấu trúc và số lượng câu thơ chữ Hán trong các bài hát nói của 5 tác giả khảo sát.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp chủ đạo dùng để giải mã hình tượng cô đầu trên cả hai bình diện: nội dung hiện thực/tư tưởng và các yếu tố thi pháp nghệ thuật.
- Phương pháp so sánh: So sánh đặc trưng hình tượng giữa 5 tác giả trong giai đoạn 1850–1930, đồng thời đối sánh đồng đại và lịch đại với các thời kỳ trước (Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát) và sau (văn học lãng mạn 1930–1945, văn học cách mạng).
Nguồn dữ liệu khảo sát chính khóa luận sử dụng bao gồm: Nguyễn Khuyến tác phẩm (Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, 2008), Việt Nam ca trù biên khảo (Đỗ Bằng Đoàn & Đỗ Trọng Huề, 1962), Tú Xương toàn tập (Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 2010) và Tuyển tập Tản Đà (Nguyễn Khắc Xương sưu tầm, 2002).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Những vấn đề khái quát
Chương I tập trung làm sáng tỏ bản chất khái niệm, lịch sử phát triển nghề nghiệp của cô đầu và tiến trình vận động của hình tượng nhân vật này trong văn học dân tộc:
-
Ba thời kỳ phát triển của nghề ca trù và sự biến đổi của cô đầu:
- Thời kỳ ca trù dùng trong nghi lễ (từ thế kỷ XV): Ca trù mang tính chất hát thờ tại đình làng, hát chúc hỗ tại cung đình (đào ngự/ngự ca) và hát thi. Tiêu chuẩn cô đầu thời kỳ này rất khắt khe: phải giữ giọng kim/thổ đồng, tuân thủ kiêng kỵ ăn uống, học nghề công phu từ 3–5 năm, trải qua "Lễ mở xiêm áo", sinh hoạt quy củ trong giáo phường dưới sự quản chế của quản giáp và phải giữ gìn đức hạnh đoan trang.
- Thời kỳ ca trù trở thành hình thức giải trí (thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX): Ca trù chuyển dần thành nghệ thuật giải trí chuyên nghiệp tại thành thị. Hình thành hiện tượng quan lại, quý tộc nuôi ca nữ riêng trong dinh phủ (như Nguyễn Hữu Chỉnh trong Hoàng Lê nhất thống chí, Nguyễn Khản trong Vũ trung tùy bút). Cô đầu hoạt động chuyên nghiệp, có vị thế tương đồng với nghệ nhân Geisha của Nhật Bản về năng lực nghệ thuật và giao tế.
- Thời kỳ ca trù biến chất (cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX): Dưới tác động của kinh tế thị trường và lối sống thuộc địa, các ca quán thương mại mọc lên dày đặc ở đô thị. Xuất hiện sự phân hóa sâu sắc thành hai nhóm: cô đầu hát (nghệ nhân tài hoa, am hiểu thi ca, giữ gìn nghề tổ) và cô đầu rượu (những cô gái không được đào tạo bài bản, không biết gõ phách, chỉ làm nhiệm vụ tiếp rượu, bồi khách, biến tướng thành tệ nạn mại dâm).
-
Tiến trình nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam:
- Văn học trung đại (thế kỷ X – cuối XIX): Xuất hiện từ sớm qua văn bản Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao (thế kỷ XV), thơ Hoàng Nghĩa Phú, truyện truyền kỳ của Nguyễn Dữ (Chuyện nàng Túy Tiêu, Chuyện nghiệp oan của Đào thị). Phát triển rực rỡ qua các tác phẩm thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du (Long Thành cầm giả ca, Điếu La Thành ca giả, Ngộ gia đệ cựu ca cơ) và cảm hứng tài tử - phong lưu của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát.
- Văn học hiện đại (từ năm 1900 đến nay): Giai đoạn 1900–1930 nở rộ trong tác phẩm của Tản Đà (Khối tình con, Thề non nước, Bình Khang ca phả) và các bài bút ký trên Nam Phong tạp chí. Giai đoạn 1930–1945 tiếp tục là nguồn cảm hứng lãng mạn cho Xuân Diệu, Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Tuân, Trần Huyền Trân, Tố Hữu. Sau năm 1945, do định kiến xã hội, hình tượng này từng bị phê phán nghiêm khắc (như bài thơ Hát ả đầu của Đào Viên năm 1957) trước khi được tôn vinh lại khi ca trù trở thành Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (UNESCO, 2009).
| Tiêu chí |
Thời kỳ Nghi lễ (Thế kỷ XV - XVII) |
Thời kỳ Giải trí (Thế kỷ XVIII - đầu XIX) |
Thời kỳ Biến chất (Nửa cuối XIX - 1930) |
| Không gian diễn xướng |
Cửa đình làng, tế lễ cung đình |
Dinh thự quý tộc, tư gia quan lại |
Ca quán đô thị, phố Khâm Thiên |
| Tổ chức quản lý |
Giáo phường làng xã, Quản giáp |
Gia đình quan lại hoặc tự do |
Chủ nhà hát thương mại |
| Phân loại nghệ nhân |
Cô đầu hát thờ, đào ngự |
Ca nhi chuyên nghiệp, gia kỹ |
Phân hóa thành "cô đầu hát" và "cô đầu rượu" |
| Yêu cầu nghề nghiệp |
Đức hạnh, kiêng kỵ nghiêm ngặt, học 3-5 năm |
Sắc đẹp, tài đàn hát, văn thơ, ứng đối |
Hát đúng thể cách (cô đầu hát) hoặc hầu rượu (cô đầu rượu) |
Chương II: Nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 nhìn từ phương diện nội dung
Chương II đi sâu phân tích hình tượng cô đầu trên các bình diện phẩm chất, hiện thực đời sống và thái độ tiếp nhận của giới cầm bút:
- Con người hội tụ sắc, tài, tâm: Khẳng định chân dung cô đầu hát chân chính với vẻ đẹp ngoại hình, tài năng âm nhạc (nhịp phách chuẩn mực, giọng ca điêu luyện), năng lực thẩm mỹ văn chương và sự tự ý thức về phẩm giá cá nhân giữa chốn son phấn. Họ mang trong mình khát vọng tình yêu lứa đôi và hạnh phúc gia đình đích thực, vượt lên sự mua vui tầm thường.
- Con người của sự tha hóa: Khảo sát thực trạng suy đồi đạo đức ở nhóm cô đầu rượu. Tác giả chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa xuất phát từ áp lực mưu sinh, cạm bẫy kim tiền của giới chủ ca quán và sự suy thoái lối sống hưởng lạc của tầng lớp thị dân thực dân nửa phong kiến.
- Con người của số phận bi kịch: Làm rõ hoàn cảnh xuất thân nghèo khó, cảnh ngộ trớ trêu, cuộc sống bấp bênh, chịu sự khinh rẻ của định kiến "xướng ca vô loài". Đời sống tinh thần của họ đầy dằn vặt, cô đơn và nỗi lo âu trước sự tàn phai của nhan sắc theo thời gian.
- Thái độ, tình cảm của các tác giả: Tồn tại hai luồng thái độ song song: một mặt là sự mỉa mai, châm biếm, lên án những thói hư tật xấu, lọc lừa nơi xóm Bình Khang (thể hiện rõ ở Nguyễn Khuyến, Tú Xương); mặt khác là niềm đồng cảm, trân trọng tài năng, xót thương cho thân phận người phụ nữ bạc mệnh (tiêu biểu ở Dương Khuê, Tản Đà, Dương Tự Nhu).
Chương III: Nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 nhìn từ phương diện nghệ thuật
Chương III phân tích các phương thức biểu hiện nghệ thuật đặc trưng được các tác giả sử dụng để khắc họa nhân vật cô đầu:
- Thể loại: Thể hát nói giữ vai trò chủ đạo nhờ tính phóng khoáng về cấu trúc câu chữ, nhạc tính phong phú và khả năng dung chứa tâm sự thế sự. Bên cạnh đó, các tác giả còn vận dụng linh hoạt thơ Nôm Đường luật, văn xuôi tự sự và bút ký.
- Ngôn ngữ nghệ thuật: Kết hợp nhuần nhuyễn giữa hệ thống ngôn ngữ bác học (sử dụng nhiều từ Hán Việt, điển tích, điển cố văn học cổ) với lớp ngôn ngữ bình dân, khẩu ngữ đời thường sống động, mang hơi thở phố thị.
- Nghệ thuật miêu tả nhân vật: Bút pháp xây dựng nhân vật có sự chuyển biến từ ước lệ tượng trưng sang miêu tả cụ thể về diện mạo, cử chỉ, tâm lý và hành động thực tế.
- Không gian và thời gian nghệ thuật: Không gian nghệ thuật chủ yếu là không gian khép kín của nhà hát, ca quán, xóm Bình Khang về đêm, đối lập với không gian xã hội bên ngoài. Thời gian nghệ thuật thường là thời gian đêm khuya, canh tàn, lúc tàn cuộc hát — thời điểm nhân vật đối diện trực tiếp với nỗi cô đơn và sự thật trần trụi của thân phận.
- Giọng điệu nghệ thuật: Đan xen đa dạng giữa giọng điệu trào lộng, giễu cợt, khôi hài cay cay và giọng điệu trữ tình, xót xa, thương cảm.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được những kết quả cụ thể dựa trên việc khảo sát tư liệu văn bản thực tế:
- Hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về nhân vật: Tái hiện đầy đủ chân dung cô đầu trong tính đa diện, phá vỡ cái nhìn phiến diện một chiều. Công trình chứng minh cô đầu giai đoạn 1850–1930 vừa là nạn nhân của bối cảnh xã hội suy đồi, vừa là chủ thể sáng tạo và gìn giữ một di sản nghệ thuật độc đáo.
- Số liệu khảo sát tác giả: Khóa luận khảo sát tác phẩm của 5 tác giả nòng cốt (Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Trần Tế Xương, Dương Tự Nhu, Tản Đà) và thống kê danh mục 19 tác giả giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đến 1930 có sáng tác được cô đầu sử dụng trong nghệ thuật hát ca trù ghi nhận tại Việt Nam ca trù biên khảo.
- Đóng góp khoa học: Bổ khuyết khoảng trống nghiên cứu khi các công trình đi trước thường chỉ khảo sát ca trù dưới góc độ âm nhạc học thuần túy hoặc nhìn nhận cô đầu khái quát trong đề tài kỹ nữ trung đại. Khóa luận là công trình chuyên biệt khai thác hình tượng cô đầu trên cả bình diện lịch sử hình thành, nội dung tư tưởng và thi pháp nghệ thuật trong giai đoạn bản lề của văn học dân tộc.
- Đóng góp sư phạm: Đề xuất căn cứ khoa học để lựa chọn các văn bản thơ hát nói viết về cô đầu làm ngữ liệu dạy học đọc - hiểu trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, giúp học sinh tiếp cận đúng đắn giá trị nhân văn và nghệ thuật của thể loại này.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do nguồn thư tịch cổ ghi chép về ca trù còn phân tán và thiếu đồng nhất, việc xác định thời điểm chính xác xuất hiện danh xưng cô đầu chủ yếu dựa vào truyền thuyết và một số sử liệu tản mạn. Khóa luận mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát sâu 5 tác giả tiêu biểu mà chưa thể bao quát toàn bộ mọi văn phẩm của tất cả các cây bút đương thời.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các thể loại văn xuôi quốc ngữ, phóng sự, tiểu thuyết đô thị giai đoạn 1930–1945 viết về đề tài xóm ả đào Khâm Thiên.
- Thực hiện nghiên cứu so sánh liên văn hóa giữa nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam với hình tượng Geisha trong văn học Nhật Bản hoặc hình tượng danh kỹ/gia kỹ trong văn học cổ điển Trung Quốc.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam: Cung cấp phương pháp tiếp cận loại hình nhân vật trong tiến trình văn học giao thời; hệ thống hóa thi pháp thể hát nói và thơ Nôm giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX.
- Giáo viên môn Ngữ văn cấp THPT: Cung cấp tư liệu nền tảng về bối cảnh văn hóa, tri thức ca trù và phương pháp phân tích các tác phẩm của Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà khi giảng dạy chương trình mới.
- Người nghiên cứu văn hóa dân gian và nghệ thuật biểu diễn: Đóng góp nguồn cứ liệu chi tiết về lịch sử giáo phường, tập tục nghề nghiệp và quá trình biến chuyển của nghệ thuật ca trù từ truyền thống sang hiện đại.
Các phần đáng tham khảo nhất trong công trình gồm: Khảo luận về sự phân hóa giữa "cô đầu hát" và "cô đầu rượu" (Chương I); Phân tích thái độ hai mặt của nhà Nho đối với nhân vật cô đầu (Chương II); Phân tích thi pháp không gian - thời gian và giọng điệu nghệ thuật (Chương III); cùng Bảng khảo sát câu thơ chữ Hán trong các bài hát nói (Phụ lục 1).
Câu hỏi thường gặp
1. Tên gọi "cô đầu" có nguồn gốc từ đâu và mang ý nghĩa gì theo kết quả nghiên cứu của khóa luận?
Tên gọi "cô đầu" xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, bắt nguồn từ tập tục trong nghề ca trù: khi học trò theo học danh ca thành nghề, mỗi lần đi hát phải trích một khoản tiền cung dưỡng sư phụ gọi là "tiền đầu". Người đời dùng từ "cô" thay cho "ả" để tăng sự trang trọng, dùng từ "đầu" thay cho "đào" nhằm tán tụng bậc danh ca lão luyện, đào tạo được nhiều học trò thành tài và tự mở ca quán độc lập. Khóa luận khẳng định danh xưng này ban đầu không mang hàm nghĩa xấu như sự ngộ nhận trong dân gian.
2. Khóa luận phân biệt "cô đầu hát" và "cô đầu rượu" ở thời kỳ ca trù biến chất như thế nào?
Khóa luận phân định rõ: "Cô đầu hát" là những nghệ nhân thực thụ, có tài năng ca hát, gõ phách điêu luyện, gìn giữ lề lối giáo phường và được giới văn nghệ sĩ tôn trọng. Ngược lại, "cô đầu rượu" là sản phẩm thương mại hóa do các chủ nhà hát đô thị tuyển mộ; nhóm này không biết hát, không biết gõ phách, chỉ làm nhiệm vụ tiếp khách, ép khách uống rượu và thực hiện các hành vi mua bán dâm trá hình, làm suy thoái thanh danh của bộ môn nghệ thuật ca trù.
3. Khóa luận khảo sát tác phẩm của những tác giả trọng tâm nào trong giai đoạn 1850–1930?
Khóa luận tiến hành khảo sát chuyên sâu qua tác phẩm của 5 tác giả tiêu biểu: Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Trần Tế Xương (Tú Xương), Dương Tự Nhu và Nguyễn Khắc Hiếu (Tản Đà); đồng thời đối chiếu mở rộng với 19 tác giả có thơ được sử dụng trong ca trù ghi nhận tại công trình Việt Nam ca trù biên khảo.
4. Sự khác biệt căn bản trong thái độ của Nguyễn Khuyến và Tú Xương khi viết về cô đầu là gì?
Nguyễn Khuyến giữ thái độ rạch ròi, nghiêm khắc của một nhà Nho truyền thống, mỉa mai gay gắt những cô đầu rượu làm hoen ố đạo đức xã hội nhưng vẫn cảm thông với những người phụ nữ lương thiện gặp cảnh ngộ éo le. Trong khi đó, Tú Xương tiếp cận cô đầu từ góc độ "nghĩa tình" và "phong tình" của một tài tử thị dân, xem các bài thơ viết cho cô đầu như thơ viết cho người tình, dùng ngòi bút trào phúng để phản ánh mặt trái đồng tiền nhưng không làm mất đi cảm xúc hướng thượng đối với vẻ đẹp tài hoa.
5. Đề tài có ý nghĩa ứng dụng thực tiễn như thế nào đối với công tác giảng dạy Ngữ văn ở trường phổ thông?
Khóa luận chỉ ra rằng các tác giả được khảo sát (Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà) đều có tác phẩm nằm trong chương trình Ngữ văn phổ thông. Việc làm sáng tỏ hình tượng cô đầu và thể loại hát nói cung cấp hệ thống tri thức nền giúp giáo viên định hướng đúng đắn cho học sinh khi đọc - hiểu văn bản, tránh những cách hiểu lệch lạc do định kiến lịch sử, đồng thời nâng cao ý thức giữ gìn di sản văn hóa dân tộc.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Minh Dương là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về hình tượng nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử văn học và thi pháp học, tác giả đã giải mã trọn vẹn diện mạo nhân vật trên cả hai bình diện nội dung hiện thực và phương thức biểu đạt nghệ thuật. Công trình góp phần khẳng định giá trị nhân văn và vị trí độc đáo của hình tượng cô đầu trong dòng văn học tài tử - giai nhân thời kỳ giao thời. Đây là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho công tác nghiên cứu văn học sử và giảng dạy môn Ngữ văn tại các trường phổ thông.