CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong chương này, tác giả sẽ cung cấ p đế n đọc giả mô ̣t bức tranh tổ ng quan về các quá trình nghiên cứu trước đây trên thế giới cũng như trong nước về những vấ n đề có liên quan đế n nô ̣i dung nghiên cứu của luâ ̣n văn. Trên cơ sở đó tác giả tiế n hành xác đinh ̣ khe hổ ng nghiên cứu cho đề tài nghiên cứu của mình và công tác tổ ng hơ ̣p các nghiên cứu trước đó cũng mô ̣t phầ n nhằ m minh chứng cho tiń h cấ p thiế t của luâ ̣n văn này.1 Các nghiên cứu nước ngoài Hendricks, K. “Adoption of the balanced scorecard: a contingency variables analysis”. Unpublished Working Paper, University of Western Ontario and University of Waterloo.
Nghiên cứu của này điều tra việc áp dụng bảng điểm cân bằng (BSC) làm hệ thống lập kế hoạch chiến lược. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên mẫu nghiên cứu gồm 179 công ty Canada. Nội dung nghiên cứu là nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố nội bộ doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC, bao gồm các nhân tố như: chiến lược cấp doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, sự không chắc chắn về môi trường, đầu tư vào tài sản vô hình và hiệu quả hoạt động trước đó. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố tác động cùng chiều đến chấp nhận vận dụng BSC gồm chiến lược cấp doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, sự không chắc chắn về môi trường, hiệu quả hoạt động trước đó.
Nhân tố đầu tư vào tài sản vô hình là không tác động đến chấp nhận vận dụng BSC. Geert Braam, Ed Nijssen (2008) “Exploring the Antecedents of Balanced Scorecard Adoption as a Performance Measurement and Strategic Management System”. Nijmegen Center for Economics (NiCE) Institute for Management Research Radboud University Nijmegen. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích đóng góp vào sự hiểu biết liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC.
Tác giả đã phân biệt hai khái niệm BSC: BSC như một hệ thống đo lường hiệu suất (PMS) (Kaplan và Norton, 1992), và như một hệ thống quản lý chiến lược (SMS) (Kaplan và Norton, 7 1996, 2001). Nghiên cứu thực hiện kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra bằng cách sử dụng mẫu gồm 40 công ty Hà Lan, các công ty được chọn là các đơn vị có mức độ vận hành hệ thống đo lường và quản lý hiệu suất giống với hai khái niệm về BSC vừa nêu trên. Kết quả cho thấy rằng những người quản lý có ý định vận dụng BSC vào đơn vị thì nên xác định loại BSC mà họ muốn thực hiện tại đơn vị cụ thể là BSC có thể được vận dụng như một hệ thống đo lường hiệu suất hoặc như là một phần mở rộng của chiến lược của công ty (SMS), vận dụng hệ thống quản lý chiến lược (SMS) sẽ góp phần cải thiện đáng kể vị thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của công ty trong khi hiệu quả của BSC như một hệ thống đo lường hiệu suất thì ít chắc chắn hơn. Do đó, nghiên cứu này kiến nghị rằng các nhà quản lý nên quan tâm hơn đến việc áp dụng BSC như SMS hơn là PMS.
Kết quả nghiên cứu hồi quy cho thấy việc vận dụng BSC phụ thuộc vào các yếu tố như: sự tham gia của quản lý cấp cao, ảnh hưởng của bộ phận tài chính, truyền thông liên phòng ban, sự năng động của sản phẩm – thị trường. Zahirul Hoque (2014) với nghiên cứu “20 years of studies on the balanced scorecard: Trends, accomplishments, gaps and opportunities for future research”. Tạm dịch “20 năm nghiên cứu về thẻ điểm cân bằng: Xu hướng, thành tích, khoảng trống và cơ hội cho nghiên cứu trong tương lai”. Mục tiêu của bài nghiên cứu là khám phá tình trạng nghiên cứu về BSC nhằm xác định những khe hỏng nghiên cứu và xác định lỗ hổng nghiên cứu và phác thảo ý tưởng nghiên cứu trong tương lai.
Tác giả thực hiện nghiên cứu bằng cách đã xem xét 114 bài viết được xuất bản trong 25 tạp chí kế toán, đồng thời xem xét 67 bài báo trong các tạp chí kinh doanh và quản lý, từ đó, các tác giả tổng hợp, đánh giá các nghiên cứu về BSC trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến 2011. Qua nghiên cứu, các tác giả góp phần phân loại các bài viết này theo từng chủ đề, thiết lập nghiên cứu, lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật phân tích dữ liệu. Bên cạnh đó, tác giả còn thảo luận những đóng góp và bài học rút ra từ các nghiên cứu để đạt được mục tiêu nghiên cứu. 8 Carol Chepng’eno Koske and Willy Muturi (2015) với nghiên cứu “Factors affecting application of balanced score card: A case study of non governmental organizations in Eldoret, Kenya”.
Tạm dịch “Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng của thẻ điểm cân bằng: Một nghiên cứu trường hợp của các tổ chức phi chính phủ ở Eldoret, Kenya”. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định và định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC trong các tổ chức phi chính phủ tại Kenya. Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp định lượng, thu thập dữ liệu thông qua khảo sát, mẫu gồm 55 người trong ban quản lý và nhân viên trong 11 tổ chức phi chính phủ ở thị trấn Eldoret, Kenya. Tác giả xác định được bốn nhân tố tác động đến việc vận dụng BSC trong các tổ chức phi chính phủ là: quy mô công ty, nhận thức về lợi ích của BSC, chi phí tổ chức BSC và tính dễ sử dụng của BSC.
Patrícia Rodrigues Quesado và cộng sự (2016) với nghiên cứu “Extrinsic and intrinsic factors in the Balanced Scorecard adoption: An empirical study in Portuguese organizations”. Tạm dịch “Các yếu tố bên trong và bên trong trong việc áp dụng bảng điểm cân bằng: Một nghiên cứu thực nghiệm trong các tổ chức Bồ Đào Nha”. Mục tiêu nghiên cứu là phân tích mối quan hệ giữ các nhân tố bên trong và bên ngoài tổ chức có ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC của các công ty sở hữu tư nhân tại Bồ Đào Nha. Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để nhận định các nhân tố tác động đến việc vận dụng BSC và sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đo lường mức độ tác động của các nhân tố.
Tác giả thu thập dữ bằng cách khảo sát chọn mẫu là 155 công ty sở hữu tư nhân tại Bồ Đào Nha. Tác giả đã đề xuất mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC trong mô hình nghiên cứu là: tuổi của doanh nghiệp; Mức độ đa dạng của sản phẩm, dịch vụ; loại hình kiểm soát; tầm quan trọng của vốn nước ngoài trong cơ cấu quyền sở hữu; mức độ quốc tế hoá và quy mô tổ chức. Tuy nhiên, bằng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ba nhân tố gồm: mức độ đa dạng về sản phẩm dịch vụ, tầm quan 9 trọng của vốn nước ngoài trong cơ cấu quyền sở hữu và quy mô của công ty có ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC; trong khi ba nhân tố còn lại là tuổi doanh nghiệp, loại hình kiểm soát, mức độ quốc tế hóa của tổ chức không ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC. Nghiên cứu này còn tồn tại những hạn chế liên quan đến mẫu nghiên cứu nhỏ, và thực hiện gửi bảng câu hỏi qua đường bưu điện nêu hiệu quả phản hồi phiếu khảo sát từ các đối tượng trả lời phỏng vấn không như mong đợi.2 Các nghiên cứu trong nước Đặng Thị Hương (2010) “Một số thuận lợi, khó khăn khi áp dụng Thẻ điểm tại các doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam.
Tại Việt Nam”. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 26 (2010) 94-104. Theo nghiên cứu này, số lượng các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ áp dụng Thẻ điểm cân bằng còn rất khiêm tốn, do đó tác giả tiến hành phân tích, đánh giá những thuận lợi và khó khăn của các doanh nghiệp dịch vụ trong việc áp dụng Thẻ điểm cân bằng nhằm tạo ra những tiền đề cho phát huy điểm mạnh, tháo gỡ những khó khăn giúp đẩy mạnh việc áp dụng Thẻ điểm cân bằng tại các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nói riêng. Cụ thể như sau: Bảng 1.1: Thuận lợi và khó khăn củadoanh nghiệp dịch vụ trong việc áp dụng Thẻ điểm cân bằng Thuận lợi Khó khăn - Sự chủ động trong đổi mới, tiếp cận - Thiếu nhận thức và sự cam kết từ phía các mô hình quản lý hiện đại các nhà lãnh đạo - Nhận thức về vai trò của chiến lược và - Khó khăn trong áp dụng quy trình thực thực thi chiến lược hiện theo mô hình Thẻ điểm cân bằng - Thực hiện quản lý theo mục tiêu - Trình độ học vấn và năng lực quản lý, - Lực lượng lao động cần cù, thông điều hành của nhà lãnh đạo còn hạn chế minh, ham học hỏi - Văn hóa doanh nghiệp chưa được chú - Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và trọng công nghệ thông tin - Khó khăn về nguồn tài chính (Nguồn: Tác giả tổng hợp) 10 Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2013) với nghiên cứu “Áp dụng bảng cân bằng điểm (BSC-BALANCE SCORE CARD) trong các doanh nghiệp Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP.
Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm: nghiên cứu tài liệu, khảo sát, phỏng vấn,…. Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên quan đến bảng điểm cân bằng. Tiếp đó thông qua việc khảo sát thực tế 20 công ty chia làm 3 nhóm: công ty đã vận dụng BSC, công ty dự định vận dụng BSC và công ty chưa sử dụng BSC, tác giả nêu được thực trạng sử dụng BSC ở một số doanh nghiệp từ đó nêu ra những thuận lợi và khó khăn khi vận dụng BSC.
Nghiên cứu này cũng chỉ ra một số nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC là: quy mô công ty, nhận thức BSC khó sử dụng, chiến lược công ty và văn hóa công ty. Cuối cùng nghiên cứu đưa ra các giải pháp giúp việc vận dụng BSC được hiệu quả và rộng rãi hơn. Trần Quốc Việt (2013) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận mô hình thẻ điểm cân bằng trong quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp Việt Nam” luận án tiến sĩ quản trị kinh doanh, Trường đại học kinh tế Quốc Dân. Nghiên cứu này thực hiện khảo sát 206 doanh nghiệp Việt Nam về các yếu tố tác động đến mức độ chấp nhận của thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard – BSC) trong quản trị chiến lược.