CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Lý luận chung về rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng Ở bất kỳ một quốc gia nào, hệ thống ngân hàng luôn đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, nó là “huyết mạch” giúp cho nguồn vốn được điều hòa, luân chuyển một cách dễ dàng hơn từ chủ thể thừa vốn đến chủ thể thiếu vốn. Giúp cho cả nền kinh tế hoạt động một cách nhịp nhàng, thống nhất. Đặc biệt, hoạt động của các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế là rất nhạy cảm, mọi biến động trên thị trường đều nhanh chóng tác động đến hoạt động ngân hàng, có thể theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực, nó có thể giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ hơn hoặc cũng có thể khiến nó phải đối mặt với hàng loạt các rủi ro, nguy cơ sụp đổ hay phá sản. Rủi ro ở đây là những biến cố không mong đợi, có thể xảy ra trong tương lai và dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí nhất định để có thể hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định.
Trong một ngân hàng, nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản nhất, nó thường chiếm tỷ trọng lớn trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng cả về khối lượng công việc cũng như mức độ tạo thuận lợi. Mặc dù hiện nay, đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng nhưng thu nhập từ nghiệp vụ này vẫn chiếm 50% đến 60% tổng thu nhập. Cùng với đó là mức độ rủi ro của nghiệp vụ này cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức rủi ro của hoạt động ngân hàng. Để có thể ngăn chặn, phòng ngừa rủi ro này xảy ra, trước hết cần phải hiểu rõ thế nào là RRTD, những đặc trưng cơ bản của nó, để từ đó xác định được các nhân tố ảnh hưởng và có các biện pháp xử lý phù hợp, kịp thời.
Hiện nay, nhiều nhà kinh tế, nhà khoa học đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau, rất phong phú và đa dạng về RRTD. Anthony Saunder và Marcia M Cornett đã định nghĩa “RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một 4 khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể thực hiện được đầy đủ về cả số lượng và thời gian”1.Kock thì cho rằng khi một ngân hàng nắm tài sản sinh lời, rủi ro xảy ra là khi khách hàng sai hẹn, có nghĩa là khách hàng không thanh toán gốc và lãi theo thỏa thuận. “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ khách hàng không thanh toán hoặc thanh toán trễ hẹn”.2 Còn theo Hennie van Greuning và Sonja Brajovic Bratanovic thì RRTD là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn vốn gốc so với thời gian đã ấn định trong hợp đồng tín dụng3, đây là thuộc tính vốn có của hoạt động tín dụng ngân hàng. RRTD tức việc chi trả bị trì hoãn hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ.
Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. Trong các văn bản luật, quyết định, thông tư hướng dẫn của NHNN Việt Nam cũng có những định nghĩa cụ thể về thế nào là RRTD. Theo đó “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”4. Hay “Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng là tổn thất có thể xảy ra với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện được hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”5.
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về RRTD, tuy nhiên chúng đều có những điểm chung, đều chỉ ra được những đặc điểm đặc trưng của RRTD như sau: 1 Financial Institutions Management: A modern Perspective, McGraw Hill/Irwin, 2000 2 Bank Management, University of South Carolina, The Dryden Press, 1995, p.107 3 Analyzing banking Risk, The Wold Bank, 2009 4 Khoản 1 điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 5 Khoản 1 Điều 2 Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/06/2014 5 Thứ nhất, RRTD là khả năng, là nguy cơ có thể xảy ra đối với ngân hàng. Đây cũng chính là bản chất của mọi loại rủi ro: tính không chắc chắn. Nếu như chắc chắn xảy ra hay không xảy ra thì nó sẽ không còn là rủi ro. Chính vì đặc tính này nên việc đo lường, đánh giá xác suất xảy ra RRTD có ý nghĩa và vai trò vô cùng to lớn đối với mỗi ngân hàng.
Thứ hai, RRTD sẽ xảy ra khi khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện việc thanh toán các nghĩa vụ nợ như trong hợp đồng đã cam kết. Bao gồm cả nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vay. Thời điểm được căn cứ để xác định nguy cơ xảy ra RRTD chính là thời hạn đã cam kết trong hợp đồng. Việc này có nghĩa là chỉ cần khách hàng thực hiện nghĩa vụ sai hẹn so với hợp đồng đã thỏa thuận thì có nghĩa là ngân hàng đã phải đối mặt với RRTD ngay thời điểm đó.
Thứ ba, RRTD nếu xảy ra thì nó sẽ gây ra tổn thất cho ngân hàng. Tổn thất này bao gồm cả tổn thất về mặt tài chính như sự sụt giảm của thu nhập, hay giá trị thị trường của vốn, cả tổn thất về uy tín, lòng tin của các khách hàng khác với ngân hàng. Hiện nay, RRTD tại các NHTM hiện nay không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như các hoạt động bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay trên thị trường liên ngân hàng, Swaps, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ,… Tuy nhiên, dù có nhiều hình thức kinh doanh mới trong hoạt động ngân hàng ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng RRTD vẫn là rủi ro chủ yếu của ngân hàng phải đối mặt. Nó giống như “ngòi nổ” không chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp một ngân hàng mà còn có tính lan truyền đến toàn hệ thống và có sự tàn phá khủng khiếp.
RRTD lúc đó có thể chính là đầu mối của những cuộc khủng hoảng tài chính hoặc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Vì thế ở tất cả các nước, RRTD là vấn đề được đặc biệt quan tâm không chỉ ở phạm vi các ngân hàng mà cả trong toàn nền kinh tế.2 Phân loại rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, có thể chia RRTD thành các loại sau: Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro lựa chọn Rủi ro giao dịch Rủi ro đảm bảo Rủi ro tín dụng Rủi do nghiệp vụ Rủi ro nội tại Rủi ro danh mục Rủi ro tập trung Rủi ro giao dịch là rủi ro liên quan đến những khoản vay riêng lẻ, là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt khoản cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm, rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn là rủi ro do ngân hàng có sai xót liên quan tới quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn, quyết định tài trợ tới lựa chọn sai khách hàng vay hay đối tượng cho vay.
Rủi ro bảo đảm là rủi ro đánh giá sai giá trị TSBĐ, nắm giữ không hiệu quả, thiếu tính chính xác trong việc đưa ra tiêu chuẩn đảm bao như mức cho vay, loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm,… Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan tới công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và kỹ thuật xử lý khoản vay có vấn đề, định mức cho vay và thời hạn cho vay không hợp lý… Rủi ro danh mục là hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro này phát sinh do ngân hàng quá tập trung vào cho vay một số ngành kinh doanh hay một đối tượng cụ thể. Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. 7 Rủi ro nội tại là rủi ro mà tự bản thân nó có, xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn vay của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế.
Rủi ro tập trung là rủi ro do ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc cùng một mức độ rủi ro cao.3 Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng Để nhận biết RRTD của một khách hàng hay của cả một danh mục cho vay, ta có thể căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau, cả các yếu tố tài chính và các yếu tố phi tài chính. Kết hợp những thông tin thu thập được sẽ giúp ngân hàng có những đánh giá chính xác về RRTD mà mình phải đối mặt.1 Dấu hiệu RRTD của một khoản vay Việc thường xuyên kiểm tra giám sát khách hàng, điều tra cơ sở hay kiểm tra các thông tin về sổ sách ghi chép, tình hình hoạt động của doanh nghiệp là cách tốt nhất giúp ngân hàng nhanh chóng phát hiện ra dấu hiệu của RRTD. Sau đây là một số dấu hiệu RRTD mà ngân hàng cần lưu ý khi tiến hành điều tra, giám sát khách hàng. Các dấu hiệu tài chính Đối với một khách hàng doanh nghiệp, các chỉ số khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, cơ cấu vốn và các vòng quay hoạt động sẽ phản ánh tình hình “sức khỏe” của doanh nghiệp.