CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN cứu VỀ CÁC NHẤN TỐ ÁNH HƯỞNG ĐẾN BỀN VỮNG LỢI NHUẬN 1.1 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giói về bền vững lọi nhuận Các nghiên cứu liên quan đến ngân hàng cho rằng các nhà quản lý sử dụng kế toán giá trị hợp lý để có BVLN. Giá trị hợp lý có thể làm ảnh hưởng đến tính BVLN của các ngân hàng (Yao và các cộng sự, 2015; Pimentel và các cộng sự; 2016; Paoloni và các cộng sự, 2017; Hung và các cộng sự, 2018; Yao và các cộng sự, 2017; và Makhsun và các cộng sự, 2018). Trên cơ sở một mẫu các ngân hàng quốc tế (ngoài Hoa Kỳ) từ 24 quốc gia trong giai đoạn 2009-2012. Yao và các cộng sự (2015) đã sử dụng kỹ thuật thu thập thủ công từ báo cáo hàng năm.
Các tác giả nhận thấy rằng các biến được sử dụng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai và lợi nhuận trước thuế tác động thuận chiều với BVLN, trong khi Giá trị hợp lý của dòng tiền các công cụ tài chính có tác động ngược chiều. Những nghiên cứu xem xét vai trò của BVLN đối với việc định giá và các nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá thị trường dài hạn. Tiêu biểu, Pimentel và các cộng sự (2016) nghiên cứu tại thị trường Brazil. Các tác giả đã phân tích dựa trên mẫu bao gồm 176 công ty niêm yết của Brazil từ năm 1995 đến năm 2013.
Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua mô hình hồi quy để đo lường việc định giá và các nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá thị trường dài hạn bao gồm dự báo lợi nhuận, giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu, các khoản thu nhập bất thường. Nghiên cứu cho thấy rằng có mối liên hệ tương đồng giữa LNBV và định giá thị trường dài hạn. Nghiên cứu của Paoloni và các cộng sự (2017) điều tra ảnh hưởng của kế toán Giá trị hợp lý đến BVLN trong lĩnh vực ngân hàng châu Âu trong giai đoạn 2007-2016. Giá trị hợp lý được ước tính bằng cách áp dụng các mô hình định giá.
Mô hình hồi quy OLS được sử dụng để kiểm định các giả thuyết của mô hình. Nghiên cứu phát hiện khả năng dự đoán, khả năng thay đổi của lợi nhuận tác động thuận chiều với BVLN, trong khi quy mô ngân hàng và đòn bẫy tài chính không ảnh hướng đến BVLN. Để xác định cạnh tranh trực tiếp ảnh hưởng đến BVLN của ngân hàng, Hung và các cộng sự (2018) đã nghiên cứu mẫu gồm 15.546 N ngân hàng thương mại từ năm 1986 5 đến 2013 và xem xét việc cạnh tranh tác động của các nhân tố đến việc BVLN của ngân hàng. Các biến như quy mô, đa dạng về thu nhập, doanh thu, tổng nợ cho vay, tỷ lệ vốn trên tài sản quan hệ cùng chiều và ảnh hưởng đến BVLN.
Mặt khác, các biến hiệu quả quản lý và khoản lỗ cho vay, rủi ro, cạnh tranh tác động tiêu cực đối với BVLN. Ngoài ra, Yao và các cộng sự (2017) sử dụng dữ liệu thu thập từ mẫu 210 ngân hàng quốc tế của 22 quốc gia sử dụng IFRS trong giai đoạn 2009-2013 để xác định mức độ ảnh hưởng của giá trị hợp lý đến BVLN. Kết quả thu được là sử dụng các giá trị hợp lý cho các công cụ tài chính trên BCĐKT sẽ tăng cường tính BVLN. Ngoài ra, kiến thức chuyên môn trong ngành kiểm toán nâng cao độ tin cậy của các ước tính giá trị hợp lý nên dẫn đến việc duy trì BVLN.
Nghiên cứu của Makhsun và các cộng sự (2018) đo lường BVLN bằng cách sử dụng phân tích hồi quy đon giản. Mau gồm các ngân hàng đã áp dụng IFRS vào năm 2011 và 2012 sau khi đã lược bỏ mẫu vào năm 2010 và sử dụng hai năm trước IFRS là 2008 và 2009. Phưong pháp phân tích hồi quy cho thấy có BVLN sau khi áp dụng IFRS cao hơn so với khi thực hiện Chuẩn mực Ke toán Tài chính Indonesia (PSAK). Bên cạnh việc nhìn nhận BVLN của ngân hàng, một số nghiên cứu cũng được thực hiện để xem xét các nhân tố tác động của các doanh nghiệp (Richardson và các cộng sự, 2005; Galimberti và Cupertino, 2009; Frankel và Litov, 2009; Dawar, 2014).
Điển hình, Richardson và các cộng sự (2005) mở rộng nghiên cứu của Sloan (1996) để xem xét tính BVLN. Các tác giả sử dụng dữ liệu trên báo cáo tài chính hàng năm của 5 công ty tại Mỹ từ 1962-2001 để tính toán các biến trong báo cáo tài chính tương ứng với các loại tích lũy dồn tích (AWC), tài sản thuần từ hoạt động kinh doanh (ANCO), dòng tiền tạo ra từ hoạt động kinh doanh (AFIN). Kết quả cho thấy AWC và ANCO tác động tiêu cực đến tính BVLN nhưng AFIN nghịch biến với BVLN. Đánh giá lại giả thuyết rằng BVLN, Galimberti và các cộng sự (2009) đã nghiên cứu mẫu gồm 126 công ty ở Brazil trong giai đoạn từ 1995 đến 2007.
Kết quả phát hiện sự không đồng nhất về BVLN có liên quan giữa các công ty. Frankel và Litov (2009) sử dụng các phương pháp kiểm định để xem xét sự biến động của BVLN đến giá cổ phiếu. Dữ liệu thu thập từ 1984 đến năm 2004 tại Mỹ. Kết quả cho thấy quy mô doanh nghiệp tác động tiêu cực đến BVLN, việc ghi nhận các khoản lỗ kịp thời làm giảm tính 6 BVLN.
Két quả cũng chỉ ra có sự ảnh hưởng của BVLN đến giá cổ phiếu. Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra khả năng tồn tại của các biến kế toán, cụ thể là các khoản thu nhập bất thường, giá trị sổ sách, các khoản phải thu và dòng tiền trong một khoảng thời gian và chênh lệch ngân hàng thuần của thị trường ỏ Ân Độ bởi Dawar (2014). Nghiên cứu sử dụng mô hình Ohlson (1995). Hồi quy dữ liệu bảng được sử dụng để phân tích dữ liệu sáu năm từ 2006 đến 20111 trên các đon vị mẫu.
Két quả đã xác định thu nhập bất thường và giá trị sổ sách, và chênh lệch lợi nhuận thuần có tác động cùng chiều đến tính BVLN. Gần đây, một số nghiên cứu cũng quan tâm đến BVLN (Canina và Potter, 2019; Aguguom và các cộng sự, 2019; Pirveli, 2020). Theo đó, Canina và Potter (2019) kiểm tra một mẫu cho các doanh nghiệp dịch vụ trong một khoảng thời gian dài để điều tra các yếu tố quyết định cụ thể về tính bền vững và khả năng dự đoán lợi nhuận. Tính bền vững và khả năng dự đoán là dấu hiệu cho thấy BVLN.
Mau được thu thập trong 19 năm từ 1997 đến 2015 gồm 31.194 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ. Nghiên cứu sử dụng phưong pháp phân tích thực nghiệm. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô, sự đa dạng hóa doanh thu và sự đặc thù trong ngành nghề kinh doanh tác động thuận chiều với BVLN. Mặt khác, các doanh nghiệp dịch vụ có các nhân tố như tổ chức hội nghị, đòn bẩy tài chính, cường độ làm việc của nhân viên theo mùa, độ nhạy cảm của GDP lại có tác động ngược chiều đến tính BVLN và khả năng dự đoán lợi nhuận.
BVLN gắn liền với hoạt động toàn diện của các doanh nghiệp, Aguguom và các cộng sự (2019) chọn 51 công ty được niêm yết trên sỏ giao dịch chứng khoán Nigeria bằng cách sử dụng kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng từ tất cả các lĩnh vực từ giai đoạn 2000-2016. Phưong pháp hồi quy theo dữ liệu bảng. Kết quả cho thấy, đòn bẩy tài chính thể hiện mối quan hệ tích cực, trong khi quy mô doanh nghiệp cho thấy mối quan hệ tiêu cực đến BVLN. Ngoài ra, Pirveli (2020) nghiên cứu tính bền vững và khả năng dự đoán của thu nhập trong các đon vị thuộc khu vực tư nhân Gruzia.
Mau cuối cùng bao gồm 450 tổ chức khu vực tư nhân lớn của Gruzia đã phải nộp báo báo cáo tài chính đã được kiểm toán trước năm 2018. Nghiên cứu sử dụng phưong pháp bình phưong nhỏ nhất. Kết quả cho thấy quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính 7 có tác động tiêu cực với BVLN. Thu nhập bất thường và quản lý tài chính tác động thuận chiều với BVLN.1 Bảng tổng hợp các nghiên cứu trên Thế giới Phuong Mau Mục tiêu pháp STT 1 ác già nghiên Kết quả nghiên cứu nghiên cứu cứu Các nhân tố Phưong Các doanh Nghiên cứu cho tác động pháp hồi nghiệp tại thấy Kết quả cho đến BVLN quy OLS Mỹ thấy AWC và của các với dữ liệu (không ANCO tác động Richardson và doanh bảng bao gồm tiêu cực đến tính 1 các cộng sự nghiệp của công ty BVLN nhưng (2005) Mỹ.
dịch vụ tài AFIN nghịch chính) giai biến với BVLN. đoạn 1962- 2001, Mối quan Phưong 937 công Kết quả cho thấy giữa sự biến pháp hồi ty của Mỹ, quy mô doanh động của lợi quy OLS từ 1984 nghiệp tác động nhuận và vói dữ liệu đến 2004 tiêu cực đến các thuộc bảng BVLN, việc ghi tính lợi nhận các khoản Frankel và 2 nhuận của lỗ kịp thời làm Litov (2009) các công ty giảm tính BVLN. Mỹ Kết quả cũng chỉ ra có sự ảnh hưởng của BVLN đến giá cổ phiếu Ảnh hưởng Phưong 126 công Kết quả phát hiện của các pháp hồi ty ở Brazil sự không đồng Galimberti và thành phần quy OLS trong giai nhất về BVLN có 3 Cupertino tích lũy với dữ liệu đoạn từ liên quan giữa (2009) đối với bảng 1995 đến các công ty. 8 Phuong Mau Mục tiêu pháp STT 1 ác gia nghiên Kết quả nghiên cứu nghiên cứu cứu các công ty ở Brazil Mối quan Phương 30 cổ Kết quả cung cấp hệ giữa pháp hồi phiếu lớn bằng chứng liên BVLN và quy OLS nhất trong quan đến giá trị giá trị cổ với dữ liệu thị trường của thu nhập và phiếu ở thị bảng cổ phiếu giá trị sổ sách trường An Ấn Độ, của vốn chủ sở Độ.
trong giai hữu. Xác định 4 Dawar (2014) đoạn 2006 tính BVLN có -2011. biến động cùng chiều với thu nhập bất thường và giá trị sổ sách, và chênh lệch lợi nhuận ròng tại Ấn Độ. Nghiên cứu Phương Mâu gôm Kết quả thấy các nhân tố pháp hồi các ngân rằng các biến ảnh hưởng quy OLS hàng quốc được sử dụng đến BVLN tế (ngoài dòng tiền từ hoạt Hoa Kỳ) động kinh doanh từ 24 quốc trong tương lai Yao và các gia trong và lợi nhuận 5.