phần mở đầu, kết cấu luận văn được chia làm 5 chương như sau: Chƣơng 1: Tổng quan về các nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết về Báo cáo tài chính và tính minh bạch thông tin Báo cáo tài chính khu vực công Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU Có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến việc công khai, minh bạch thông tin tài chính nói chung, xác định được tầm quan trọng của tính minh bạch thông tin tài chính khu vực công, xem xét ảnh hưởng của các nhân tố môi trường tới sự phát triển kế toán khu vực công,… Theo thời gian, các nghiên cứu sau kế thừa, bổ sung cho các nghiên cứu trước nên ngày càng hoàn thiện hơn về nội dung nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài - Các nghiên cứu liên quan đến minh bạch thông tin tài chính nói chung Trong nghiên cứu của Jeffrey và Marie (2003) phát triển mô hình xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố về văn hóa, quốc gia và doanh nghiệp đến việc công bố thông tin tài chính và được kiểm nghiệm bởi việc lấy mẫu các doanh nghiệp từ 33 quốc gia. Kết quả của mô hình hồi quy chỉ ra rằng việc công bố thông tin bị ảnh hưởng bởi các nhân tố văn hóa, hệ thống quốc gia và hệ thống doanh nghiệp. Sự khác nhau giữa các thành phần trong mô hình giúp giải thích sự khác biệt về việc công bố thông tin tài chính quan sát được giữa các doanh nghiệp ở các nước khác nhau và giữa các doanh nghiệp trong cùng một nước. Đồng thời, quyết định công bố thông tin tài chính của một doanh nghiệp rất phức tạp và chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố thuộc về quốc gia và doanh nghiệp.
Bushman và cộng sự (2004) đưa ra đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố pháp luật và yếu tố kinh tế đến tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp. Nghiên cứu phân tích theo hai nhóm khác nhau, một là minh bạch thông tin tài chính (dựa trên mức độ công bố và thời gian công bố thông tin), hai là minh bạch thông tin quản trị (dựa trên mức độ công bố thông tin quản trị ra bên ngoài cho các nhà đầu tư). Kết quả là, nhóm nhân tố minh bạch thông tin tài chính thì chủ yếu liên quan đến kinh tế quốc gia, còn nhóm nhân tố minh bạch thông tin quản trị liên quan đến pháp luật. Tính minh bạch thông tin quản trị cao hơn ở những nước có chế độ pháp luật cụ thể và hiệu quả pháp lý cao, ngược lại, tính minh bạch thông tin tài chính lại cao hơn ở các nước có tỷ lệ doanh nghiệp, ngân hàng nhà nước sở hữu thấp.
Cụ thể TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 hơn, nghiên cứu này sử dụng phương pháp thống kê mô tả các nhân tố có liên quan đến tính minh bạch thông tin và trình bày các thước đo để đo lường tính minh bạch của BCTC; xem xét tính minh bạch của BCTC thông qua 5 nhóm nhân tố: (1) mức độ công bố thông tin tài chính, (2) mức độ công bố thông tin quản trị, (3) các nguyên tắc kế toán được sử dụng để đo lường việc công bố thông tin, (4) thời gian công bố BCTC, (5) chất lượng kiểm toán BCTC. Cheung và cộng sự (2005) đã xem xét mức độ công khai và minh bạch tài chính của các công ty niêm yết ở hai thị trường Hồng Kông và Thái Lan. Nhóm tác giả sử dụng bảng khảo sát được thiết kế dựa trên nguyên tắc quản trị của OECD để thực hiện đánh giá mức độ minh bạch thông tin của các CTNY. Nghiên cứu đưa ra hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin và tính minh bạch thông tin là nhóm nhân tố tài chính (quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, kết quả tài chính, tài sản đảm bảo và hiệu quả sử dụng tài sản) và nhóm nhân tố quản trị công ty (mức độ tập trung quyền sở hữu, cơ cấu của HĐQT và quy mô của HĐQT) với kết quả thực nghiệm thu được khác nhau giữa hai thị trường Hồng Kông và Thái Lan.
Nhóm nhân tố tài chính giải thích được sự thay đổi mức độ công bố thông tin tại các công ty ở Hồng Kông nhưng lại không giải thích được đối với trường hợp các công ty ở Thái Lan. Hơn nữa, nhóm nhân tố quản trị công ty như cơ cấu HĐQT và quy mô HĐQT có ảnh hưởng tới mức độ công bố thông tin ở Thái Lan hơn so với Hồng Kông. Kết quả này phù hợp với quan điểm quản trị công ty tốt sẽ dẫn đến việc công bố và minh bạch thông tin tốt hơn đối với thị trường kém phát triển hơn, cụ thể trong nghiên cứu là Thái Lan. - Các nghiên cứu liên quan đến minh bạch TTTC khu vực công nói riêng Chan (2006) đã nghiên cứu về cải cách hệ thống kế toán công tại các nước đang phát triển, đưa ra mục tiêu phát triển và phân tích các chi phí – cơ hội của việc cải cách kế toán này.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, hệ thống kế toán công liên quan đến hệ thống thông tin của chính phủ, giúp phát huy trách nhiệm giải trình cho chính phủ và nâng cao tính minh bạch thông tin. Nhằm thay đổi các chính sách và thủ tục của kế toán trên cơ sở vận dụng IPSAS, các quốc gia đang phát triển cần chuyển đổi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 từ cơ sở kế toán tiền mặt sang cơ sở kế toán dồn tích, hướng đến hệ thống kế toán công hiệu quả, minh bạch và hướng đến nhu cầu của người sử dụng thông tin, đặc biệt là đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài như công chúng. Kết quả của việc cải cách và vận dụng IPSAS theo như phân tích của tác giả phụ thuộc vào: Vai trò hỗ trợ của các cán bộ lãnh đạo cấp cao và Nguồn tài chính cung cấp để thực hiện. Yasuhiro Yamada (2007) tập trung vào mục tiêu BCTC với quan điểm cho rằng mục tiêu BCTC là yếu tố có tính chất quyết định đến nội dung BCTC.
Nghiên cứu đã mô tả các mục tiêu chính và đặc điểm BCTC của các tổ chức chính quyền ở Hoa Kỳ, sau đó kiểm tra các mục tiêu BCTC của chính quyền Nhật Bản, từ đó phân tích và xác định rõ hơn mục tiêu BCTC khu vực công của Nhật. Điểm giống nhau là BCTC khu vực công của Nhật và Mỹ đều đặt mục tiêu trách nhiệm giải trình và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định, nhưng lại khác nhau ở đối tượng sử dụng TTBCTC khu vực công. Tác giả lưu ý sự khác nhau giữa hai quốc gia trong mức độ nhận thức về việc nộp thuế của người dân: người dân Mỹ rất quan tâm về số tiền thuế mà họ nộp được sử dụng có hiệu quả hay không và có quyền đòi hỏi các thông tin giải trình của chính phủ; trong khi đó người dân Nhật Bản không quan tâm tới số tiền thuế được sử dụng như thế nào và cũng không đòi hỏi được giải trình vì cho rằng dù có sử dụng dịch vụ công hay không thì vẫn phải nộp thuế. Như vậy, tại Mỹ, đối tượng sử dụng thông tin là công chúng rất được đề cao, đồng thời nhu cầu sử dụng TTBCTC khu vực công của công chúng Mỹ rất cao.
Còn tại Nhật, người Nhật không có nhu cầu đòi hỏi cao về trách nhiệm giải trình của chính phủ và BCTC khu vực công của Nhật coi trọng việc cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của các cán bộ, lãnh đạo nhiều hơn là công chúng. Tác giả cho rằng cần đưa mục tiêu cung cấp thông tin đánh giá trách nhiệm giải trình làm mục tiêu cơ bản của BCTC khu vực công của Nhật Bản trong tương lai. Bakar và cộng sự (2011) bàn luận về các cơ hội và thách thức đối với một nước đang phát triển như Malaysia trong việc nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, học hỏi theo một số quốc gia phát triển như Anh (ví dụ về ngành giáo dục), Mỹ (ví dụ về ngành y tế). Nghiên cứu cho rằng mục tiêu đo lường hiệu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 quả trong việc nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình có thể đạt được khi có thuyết minh rõ ràng, cụ thể, từ đó dễ dàng hơn trong việc xếp hạng các cơ quan chính phủ, tiêu biểu là việc xếp hạng dựa trên chỉ số KPI (Key Performance Indicators).
Chỉ số này đo lường thông qua: Hiệu quả và hiệu suất của quá trình cung cấp dịch vụ, Nguồn nhân lực và năng suất tài chính, Sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ nhận được. Nghiên cứu kết luận rằng, khu vực công ở Malaysia khuyến khích sự minh bạch và có xu hướng minh bạch hóa ngày càng cao trong tương lai với điều kiện phải giải quyết các vấn đề, khắc phục chính sách lỗi thời với quyết tâm vượt qua khó khăn và từng bước đạt được mục tiêu đề ra. Cristina Silvia Nistora và cộng sự (2013) nói về ảnh hưởng của các nhân tố môi trường tới sự phát triển kế toán khu vực công của Romani, một quốc gia đang phát triển. Nghiên cứu xác định có năm nhân tố tác động đến việc cải cách, phát triển kế toán tài chính bao gồm: Môi trường Pháp lý, Chính trị, Kinh tế, Văn hóa, Giáo dục; đồng thời chỉ ra sự ảnh hưởng phụ thuộc lẫn nhau và có sự kết hợp giữa các yếu tố.
Hệ thống chính trị có ảnh hưởng tới hệ thống kinh tế, trong đó việc cải cách, phát triển hệ thống báo cáo kế toán và công bố thông tin sẽ theo yêu cầu của người sử dụng thông tin. Sự kết nối giữa các nhân tố pháp lý và kinh tế thì quyết định hệ thống kế toán. Nhân tố văn hóa xã hội tác động đến chính sách kế toán và quyết định sự phát triển kế toán, liên kết chặt chẽ với nhân tố giáo dục – nhân tố có ảnh hưởng mạnh tới lý thuyết kế toán và thực hành kế toán. Các kết quả này có thể là cơ sở áp dụng cho các quốc gia khác có nét tương đồng.
Citra Sukmadilaga và cộng sự (2015b) đã nghiên cứu mức độ công bố thông tin trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) dựa trên BCTC kết thúc năm 2012-2013 của chính phủ. Dữ liệu thu thập sử dụng danh sách được cung cấp bởi IPSAS và hai quốc gia trong khu vực ASEAN là Indonesia và Malaysia được chọn để tiến hành khảo sát.