Chương 1 đã trình bày lý do chọn đề tài “Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam”, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như các phương pháp sẽ sử dụng trong luận văn, ý nghĩa của đề tài và cuối cùng là bố cục của luận văn. 123doc 6 Chương 2. Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh và các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần 2. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM 2.
Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiệu quả hoạt động kinh doanh bao gồm hai mặt là hiệu quả kinh tế (phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực của doanh nghiệp hoặc của xã hội để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất) và hiệu quả xã hội (phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh), trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định (Lê Văn Tư, 2005). Hiệu quả là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm và đầu ra hàng hóa và dịch vụ”, “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào” và “mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã định trước” (Nguyễn Khắc Minh, 2004). Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Hiện nay có nhiều chỉ tiêu tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM, tuy nhiên, nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời thường được sử dụng phổ biến để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Khả năng sinh lời là chỉ tiêu phản ánh tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh, xem xét đến khả năng tạo ra lợi nhuận cũng như xem xét đến các yếu tố rủi ro đe dọa hoạt động của ngân hàng, thông qua các chỉ tiêu này, hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng được đánh giá một cách tổng quát.
Xác định được các yếu tố tác động đến nhóm chỉ tiêu này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM. Luận văn sử dụng 2 chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời là ROA và ROE để nghiên cứu. Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) ROA được tính bằng tỷ số phần trăm của lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản bình quân, đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của một ngân hàng, thể hiện hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận. ROA càng cao chứng tỏ khả năng sinh lợi trên tổng tài sản của ngân hàng càng lớn.
Tuy nhiên, có trường hợp ngân hàng tạm thời có ROA cao nhưng không hẳn là vì khai thác tài sản một cách hiệu quả mà là vì thiếu hụt đầu tư vào tài sản, có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh trong lâu dài. Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROE là tỷ số tài chính để đo khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ phần. ROE được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng chia cho vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ. ROE cho thấy quy mô lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ mỗi đồng vốn đầu tư của các chủ sở hữu, từ đó phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của ngân hàng và lợi nhuận mà các cổ đông được hưởng khi đầu tư vào ngân hàng.
Tỷ lệ ROE càng cao càng hấp dẫn các nhà đầu tư vì điều này chứng tỏ rằng ngân hàng sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông. Tuy nhiên có trường hợp ROE cao nhưng không hẳn do ngân hàng khai thác vốn chủ sở hữu một cách hiệu quả mà là phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay, khiến cho cơ cấu tài chính mất cân bằng và hàm chứa nhiều rủi ro. Cụ thể, nếu ngân hàng tăng tỷ trọng vốn vay thì tỷ trọng vốn chủ sở hữu sẽ giảm, khiến cho mẫu số ROE có thể giảm và trong điều kiện thích hợp thì ROE sẽ tăng, tuy nhiên rủi ro vỡ nợ và rủi ro phá sản cũng tăng theo. Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM 2.
Nhóm nhân tố nội tại ngân hàng 2. Quy mô ngân hàng Quy mô ngân hàng được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản. Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của một ngân 123doc 8 hàng. Nhìn chung, quy mô lớn được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm chi phí do lợi thế kinh tế theo quy mô.
Theo nghiên cứu của Nicolae Petria, Bogdan Capraru, Iulian Ihnatov (2015), Muhammad Sajid Saeed (2014), Ong Tze San và The Boon Heng (2013), Husni Ali Khrawish (2011), Haron, Sudin (2004), Toni Uhomoibhi (2008) thì quy mô ngân hàng có quan hệ cùng chiều với ROA và ROE. Trái lại, nghiên cứu của Athanasoglou và cộng sự (2005) tại Hy Lạp, Eichengreen và Gibson (2001), V.Flamini (2009) tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa 2 yếu tố này. Trong khi đó, May Wahdan và Walid El Leithy (2017) không tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và hiệu quả hoạt động. Quy mô vốn chủ sở hữu Vốn và các hoạt động huy động vốn quyết định trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng.
Vốn đóng vai trò chi phối và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM. Vốn chủ sở hữu là cơ sở giúp ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh, quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản cho thấy khả năng chịu thiệt hại cũng như khả năng phục hồi của ngân hàng khi đối mặt với khủng hoảng. Theo nghiên cứu của các tác giả Demerguç-Kunt và Huizingha (1999), Haron và Sudin (2004), Toni Uhomoibhi (2008), Bashir, Abdel Hamid M.
(2003) đều sử dụng số Vốn chủ sở hữu / tổng tài sản như là các biến độc lập để nghiên cứu ảnh hưởng đến hiệu quả ngân hàng bởi vì vốn chủ sở hữu lớn kỳ vọng sẽ làm giảm rủi ro cho ngân hàng và tạo thêm niềm tin cho khách hàng. Vincent Okoth Ongore, Gemechu Berhanu Kusa (2013), Ong Tze San và The Boon Heng (2013) cùng đưa ra kết quả cho rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có quan hệ cùng chiều với hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tỷ lệ thanh khoản Tính thanh khoản của NHTM được xem như khả năng tức thời để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết. Sau khủng hoảng tài chính 123doc 9 tiền tệ năm 2008, rủi ro thanh khoản đã được xem là mối đe dọa nghiêm trọng đối với lĩnh vực tài chính, ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế.
Nếu ngân hàng không đủ nguồn vốn cần thiết để đáp ứng mọi nhu cầu của thị trường sẽ có thể mất khả năng thanh toán, mất uy tín và dẫn đến sự đổ vỡ của toàn hệ thống. Quản lý thanh khoản, vì thế, cũng ngày càng có vị trí quan trọng trong công tác quản trị rủi ro, đặc biệt trong quá trình tái cấu trúc các tổ chức tín dụng hiện nay. Để đo lường tính thanh khoản của ngân hàng, luận văn sử dụng tỷ lệ cho vay so với tổng vốn huy động (Loan to Deposit Ratio - LDR). Tỷ số này cho biết tỷ lệ % các khoản cho vay của ngân hàng được tài trợ thông qua nguồn vốn huy động, tỷ số này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng yếu.
Usman Dawood (2014) chỉ ra rằng tính thanh khoản có quan hệ ngược chiều với ROA, Molyneux và Thorton (1992) cũng cho kết quả tương tự. Nhưng theo Muhammad Sajid Saeed (2014), Bourke (1989) có một mối liên hệ đồng biến giữa tính thanh khoản và hiệu quả sinh lời ngân hàng. Tỷ lệ DPRR tín dụng Ngân hàng là trung gian tài chính, là cầu nối giữa những người đi vay và cho vay. Hoạt động cho vay của ngân hàng giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục.
Bên cạnh đó, lợi nhuận từ hoạt động cho vay là lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng. Chính vì thế, rủi ro tín dụng là dạng rủi ro thường xuyên xuất hiện trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Chất lượng các khoản vay (thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu) có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu cao đồng nghĩa ngân hàng sẽ phải đối mặt với nguy cơ tổn thất cao, từ đó sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Vì vậy, để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với các khoản nợ của ngân hàng, việc trích lập dự phòng để xử lý rủi ro là điều cần thiết.
Tỷ lệ DPRR tín dụng được tính bằng cách lấy DPRR tín dụng chia cho tổng dư nợ cho biết bao nhiêu % dư nợ được trích lập dự phòng. Chỉ số này càng cao cho thấy chất lượng các khoản tín dụng của ngân hàng đang tiêu cực và khả năng thu hồi nợ 123doc 10 thấp. Nếu chỉ số này thấp thì có thể phản ánh chất lượng cải thiện của các khoản nợ, hoặc có thể do các khoản dự phòng chưa được trích lập đầy đủ theo quy định. Theo nghiên cứu của Ong Tze San và The Boon Heng (2013), tỷ lệ trích lập DPRR tín dụng có quan hệ ngược chiều với lợi nhuận.
Trong khi đó, theo kết quả nghiên cứu của May Wahdan và Walid El Leithy (2017) thì không tìm thấy mối quan hệ giữa chi phí DPRR tín dụng với ROA và ROE. Hiệu quả quản lý Hiệu quả quản lý của ngân hàng có thể hiểu là hiệu quả quản lý nguồn nhân lực, hoạch định chiến lược kinh doanh, hiệu quả quản lý chi phí. Luận văn đề cập đến vấn đề hiệu quả quản lý chi phí để xem đây là một nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Quản lý chi phí là quản lý các yếu tố đầu vào và đầu ra, xem xét các yếu tố này có đem lại lợi nhuận và hiệu quả hay không.
Mục đích của việc quản lý chi phí là để đảm bảo nguồn vốn được huy động từ các nguồn thích hợp với chi phí hợp lý và đúng thời điểm để ngân hàng đạt được mục tiêu kinh doanh của mình. Quản lý chi phí sẽ quyết định sự tồn tại và thành công của ngân hàng, giúp ngân hàng sử dụng một cách tối ưu nhất các nguồn tài nguyên.