CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu về tác động của các nhân tố nguồn lực đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Các mô hình kinh tế kinh điển đã chỉ ra các động lực cơ bản để có thể phát triển một nền kinh tế hay chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hiệu quả sẽ dựa trên các nguồn lực về vốn, lao động và khoa học - công nghệ. Dưới đây là phần tổng hợp của nghiên cứu về những tài liệu đi trước đánh giá tác động của các nhân tố vừa đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Các nghiên cứu ngoài nước Đề cập đến các nhân tố về nguồn lực ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, nguồn lực về tiền tệ được xem là mấu chốt cho việc tạo động lực cho quá trình. Thứ nhất, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là hệ quả trong quá trình hội nhập quốc tế của các nước đang phát triển. Bên cạnh những nhược điểm vì chịu ảnh hưởng từ nền kinh tế lớn thì nguồn vốn này cũng cho thấy những lợi ích không nhỏ của nó trong quá trình đổi mới của họ. Kayani và cộng sự (2012) trong nghiên cứu của họ về quá trình hội nhập của các nước Đông Á chỉ ra rằng Trung Quốc bị ảnh hưởng lớn bởi vốn đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài.
Do không có được những đổi mới kịp thời về khoa học công nghệ nên các sản phẩm công nghệ của họ xuất khẩu đều dưới sự chỉ huy của các doanh nghiệp có vốn đầu tư không phải từ trong nước. Nhật Bản hay Hàn Quốc là ví dụ cho việc sử dụng nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài mà không chịu sự ảnh hưởng rất hiệu quả, Nhật Bản đi trước và Hàn Quốc theo sau đó trong việc học tập và ứng dụng nhanh chóng những công nghệ mà nước ngoài đầu tư cho họ chứ không cho các tổ chức nước ngoài thành lập những cơ sở sản xuất ngay tại đất nước mình trong thập niên 60 của thế kỷ 20. Những chính sách đúng đắn về tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài tại hai quốc gia hiện tại đã phát triển châu Á trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ hai cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của Nicolas và cộng sự (2013). Nghiên cứu khác về các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, Phillipines, Thái Lan hay các nước thuộc nhóm BRICS (nhóm các quốc gia có nền kinh tế mới nổi) cũng cho thấy ảnh hưởng to lớn của FDI đến sự thay đổi về cơ cấu ngành kinh tế cũng như tăng trưởng (Andreff, 2016; Jongwanich và Kohpaiboon, 2013).
Cũng do ảnh hưởng lan tỏa của động lực do nguồn vốn đến từ các 10 doanh nghiệp lớn từ ngoài nước, các doanh nghiệp trong nước của các quốc gia dần lớn mạnh và phần nào đó là nguồn đầu tư hiệu quả cho quá trình chuyển dịch cơ cấu cũng như tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế, chi tiêu chính phủ và quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hay tăng trưởng kinh tế đều có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, nó không đơn thuần như mối quan hệ tuyến tính trong phân tích hồi quy. Vì vậy, các tác giả có thể đưa ra những kết quả khác nhau dựa vào phương pháp và số liệu họ thu thập được và sử dụng. Sử dụng phương pháp GMM với số liệu của 15 nước đang phát triển trong giai đoạn từ năm 1972 đến năm 1999, Ghosh và Gregoriou (2008) chỉ ra rằng các nước đang phát triển đang phân bổ các nguồn lực của họ một cách không hợp lý, họ chi quá nhiều cho việc đầu tư mà không mang lại hiệu quả tương xứng như là chi thường xuyên.
Và nó hàm ý cho kết luận, chi thường xuyên tăng lên tỷ lệ thuận với tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên chi tiêu cho đầu tư cho một kết quả ngược lại. Nghiên cứu đi trước của Devarajan và cộng sự (1996), Ghafoor và cộng sự (2000); Ranasinghe và Masaru (2014) đều cho kết quả tương tự. Ngoài ra, trình độ khoa học - công nghệ cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Châu Âu là một trong những khu vực có được sự phát triển kinh tế mạnh mẽ nhờ chú trọng vào công nghệ cao, Piekut (2013) so sánh nguồn vốn dành cho khoa học công nghệ tại nhiều quốc gia trên thế giới và đưa ra những nhận định rằng: các nước phát triển hàng đầu ở châu Âu như Phần Lan, Đan Mạch hay Thụy Điển đều dành một lượng vốn cho khu vực này lớn như các cường quốc trên thế giới như Mỹ hay Nhật Bản.
Nguồn ngân sách của chính phủ lớn cùng với những sự đầu tư mạnh mẽ từ khối tư nhân đã mang đến một sự phát triển mạnh mẽ tại các quốc gia này. Điều tương tự cũng được ghi nhận tại Đức hay Áo, những nước đã dành những sự đầu tư đều đặn cho nghiên cứu và phát triển qua một giai đoạn thời gian dài đáng kể. Một điểm sáng nữa được chứng kiến tại châu Á, với Hàn Quốc đã bước vào một trong những nước phát triển trên thế giới sau khi đạt được những thành công xứng đáng vì tập trung vào phát triển công nghiệp công nghệ cao. Điều ngược lại được tác giả chỉ ra tại các nước Đông Âu như Rumani, Bulgari, Litva, Phần Lan, Slovakia và Lít va, sự yếu kém về việc phát triển khoa học và hoạt động sáng tạo tại các doanh nghiệp tư nhân được phân tích trong nghiên cứu.
Duy nhất tại khu vực này chứng kiến sự khác biệt trong nhận thức về công nghệ cao đó là Slovenia với một nguồn vốn dồi dào dành cho việc tạo ra những hoạt động kinh doanh với kỳ vọng mang đến năng suất cao hơn trong tương lai. Bên cạnh đó, các quốc gia khác của châu Âu như Estonia, Cộng hòa Séc hay Hungary được tác giả đánh giá là các quốc gia theo kịp với xu hướng nhờ 11 việc dành những khoản đầu tư đáng kể cho khoa học và sự thay đổi trong việc đa dạng hóa các loại hình kinh doanh năng động, hiệu quả hơn. Tựu chung lại, tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu và phát triển được nhà nghiên cứu chứng minh trong nghiên cứu của mình tại khu vực Trung cũng như Đông Âu. Ngoài ra, việc liên kết giữa sự đầu tư và doanh nghiệp đã mang đến những giải pháp sáng tạo mới, nó gián tiếp tạo ra tăng trưởng doanh số của khu vực sản xuất cũng như tiết kiệm được nguồn lực, chi phí.
Cũng nhận ra được một hệ thống hiệu quả trong việc đầu tư khoa học và công nghệ tại Estonia và Hàn Quốc, Kshetri (2014) phân tích việc tạo ra một hệ sinh thái giữa chính quyền với các doanh nghiệp để mang đến sự khác biệt trong con số tăng trưởng kinh tế tại đây. Vai trò của các tổ chức tư nhân được nhắc đến rất cụ thể trong hoạt động hiệu quả của hệ sinh thái này, trong khi Estonia chứng tỏ được sự hiệu quả hơn trong chất lượng của các tổ chức thì Hàn Quốc cho thấy sự mạnh mẽ của mình trong việc liên kết giữa chính phủ và các doanh nghiệp. Sự đa dạng trong việc phát triển công nghệ cao được Hàn Quốc phát huy nhưng Estonia nhờ việc tạo ra những tổ chức nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp đã mang đến cho họ nhiều cơ hội hơn để phát triển mặc dù hiện tại những phát triển cơ bản chỉ thấy ở mảng công nghệ thông tin. Việc xác định rõ ràng vai trò của khoa học và công nghệ đã mang đến cho hai chú hổ của châu Á và vùng Baltic này những phát triển vượt bậc qua những con số phát triển ấn tượng của họ trong giai đoạn từ 1995 đến 2013.
Cộng đồng khởi nghiệp tại hai quốc gia này được tạo điều kiện tối đa để gia nhập và phát triển, 78,3 % các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Hàn Quốc sống sót trong năm năm đầu của họ và 69,3% duy trì hoạt động trong vòng 10 năm tiếp theo. Con số tại Estonia là 57% trong năm năm đầu tiên (Lee, 2003). Ngoài những nghiên cứu về các quốc gia đã thành công trong việc thay đổi cơ cấu ngành kinh tế thông qua đầu tư vào nghiên cứu công nghệ thì cũng có những nghiên cứu chỉ ra những yếu kém trong việc phát triển kinh tế do không chú trọng vào khu vực này, Fedulova (2013) trong nghiên cứu của mình đã phân tích thực trạng của Liên bang Nga và Ukraina trong quá trình phát triển kinh tế từ năm 2000 đến 2011 và nêu ra rằng chính việc thiếu đầu tư nguồn vốn xứng đáng cũng như cơ chế chính sách dành cho khu vực doanh nghiệp chính là lý do làm hai nền kinh tế này tụt hậu so với các cường quốc khác trên thế giới. Kết luận tương tự cũng được Gomułka (2016) kết luận trong nghiên cứu của tác giả.
Mặc dù đạt được những thành tựu nhất định trong quá trình chuyển dịch kinh tế với GDP tăng gấp 2,3 lần vào năm 2013 so với chỉ tiêu cùng kỳ năm 1989, tuy nhiên với lượng vốn dành cho khoa học công nghệ của cả Chính phủ hay khu vực tư nhân ít ỏi, hệ thống hỗ trợ sáng tạo khoa học đối mặt với nhiều rủi ro và không có được sự vững vàng trong quá trình đổi mới và phát triển của mình. 12 Năng suất và chất lượng của lao động cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng rõ rệt đến chuyển dịch cơ cấu ngành, những nghiên cứu trong giai đoạn trước những năm 2000 tập trung ở các nước công nghiệp phát triển. Vì vậy, kết quả thu được tương đối giống nhau. Fagerberg (2000) cũng cho rằng thay đổi trong cơ cấu lao động cũng tác động không nhỏ tới năng suất lao động và từ đó tác động gián tiếp tới tăng trưởng kinh tế tại vương quốc Anh trong nửa đầu của thế kỷ 20.
Ngoài ra, sự thay đổi của năng suất lao động cũng được tác giả đánh giá thông qua số liệu của khu vực chế biến - chế tạo trong thời kỳ 1973-1990 tại 39 quốc gia trong đó bao gồm cả các nước đang phát triển. Vai trò của công nghệ mới cũng được chỉ ra ở đây, thời gian đầu của cách mạng công nghiệp, mối quan hệ đơn thuần chỉ giữa sản lượng, năng suất và việc làm.