Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại khu vực duyên hải Trung Bộ

Luận án phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại các tỉnh duyên hải trung bộ, cung cấp cái nhìn sâu sắc và thực tiễn.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2017

164
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1. Các nghiên cứu về tác động của các nhân tố nguồn lực đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI TRUNG BỘ

4. CHƯƠNG 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI TRUNG BỘ

5. CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP KHAI THÁC CÁC NHÂN TỐ ĐỂ THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI TRUNG BỘ

Tóm tắt

I. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế duyên hải Trung Bộ Thực trạng và động lực

Phần này tập trung phân tích chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế khu vực duyên hải Trung Bộ, dựa trên số liệu thống kê từ năm 2007-2017. Tỷ trọng GDP của ngành nông nghiệp vẫn cao (18,26% năm 2017), cho thấy sự cần thiết phải thúc đẩy chuyển dịch sang ngành công nghiệpngành dịch vụ. Sự phát triển không đồng đều giữa các tỉnh, sự cạnh tranh nội vùng, và thiếu liên kết vùng là những thách thức lớn. Các khu kinh tế như Chu Lai, Dung Quất, Chân Mây và Nhơn Hội được kỳ vọng đóng vai trò động lực tăng trưởng, nhưng hiệu quả còn hạn chế. Phát triển kinh tế duyên hải Trung Bộ cần khai thác tiềm năng du lịch, cảng biển nước sâu, và hạ tầng giao thông hiện có. Tuy nhiên, sự khác biệt về khí hậu, địa hình giữa Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ cần được xem xét trong chiến lược phát triển.

1.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Phân tích chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế dựa trên tỷ trọng GDP của từng ngành: nông nghiệp, công nghiệp, và dịch vụ. Số liệu cho thấy sự chênh lệch đáng kể giữa các tỉnh, phản ánh sự phát triển không đồng đều. Cơ cấu ngành kinh tế hiện tại chưa phản ánh đầy đủ tiềm năng của khu vực. Các tỉnh có sự chuyển dịch hiệu quả (Thanh Hóa, Hà Tĩnh) cho thấy hướng đi đúng đắn. Tuy nhiên, nhiều tỉnh khác vẫn phụ thuộc vào nông nghiệp, cần có chiến lược chuyển dịch mạnh mẽ hơn. Phát triển kinh tế duyên hải Trung Bộ cần sự kết hợp hài hòa giữa ba ngành, dựa trên thế mạnh của từng địa phương. Thiếu sự liên kết vùng làm giảm hiệu quả khai thác các nguồn lực. Giảm nghèo bền vững phụ thuộc vào sự thành công của quá trình chuyển dịch này. Thu hút đầu tư trong nướcđầu tư nước ngoài là yếu tố quan trọng để thúc đẩy chuyển dịch.

1.2 Động lực phát triển kinh tế duyên hải Trung Bộ

Nhấn mạnh vai trò của hạ tầng kinh tế duyên hải Trung Bộ: cảng biển, sân bay, khu kinh tế. Du lịch duyên hải Trung Bộ có tiềm năng lớn nhưng cần đầu tư phát triển bền vững. Thủy sản duyên hải Trung Bộ cần được hiện đại hóa. Nông nghiệp duyên hải Trung Bộ cần chuyển đổi mô hình sản xuất để nâng cao giá trị gia tăng. Công nghiệp duyên hải Trung Bộ cần thu hút đầu tư công nghệ cao. Dịch vụ duyên hải Trung Bộ cần đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng. Nguồn nhân lực duyên hải Trung Bộ cần được đào tạo, nâng cao năng lực để đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế hiện đại. Cơ hội đầu tư duyên hải Trung Bộ cần được quảng bá rộng rãi để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Môi trường đầu tư duyên hải Trung Bộ cần được cải thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp.

II. Nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Phần này tập trung vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, bao gồm các nhân tố truyền thống (vốn, lao động, công nghệ) và nhân tố thể chế. Nguồn lực về vốn, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn cần được nâng cao. Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt, đòi hỏi đầu tư vào giáo dục và đào tạo. Trình độ khoa học công nghệ còn thấp, cần đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới. Thế chếmôi trường đầu tư cần cải thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển dịch. Cạnh tranh kinh tế duyên hải Trung Bộ cần được lành mạnh hóa để tạo điều kiện phát triển bền vững. Phân bổ nguồn lực duyên hải Trung Bộ cần được tối ưu hóa để đáp ứng nhu cầu phát triển của từng ngành.

2.1 Nhân tố nguồn lực

Phân tích tác động của nguồn vốn (trong nước và nước ngoài), nguồn nhân lực, và trình độ khoa học công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Thiếu hụt nguồn vốn chất lượng cao làm hạn chế quá trình chuyển dịch. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của các ngành công nghiệp hiện đại. Khoa học công nghệ lạc hậu cản trở việc nâng cao năng suất và hiệu quả. Đầu tư nước ngoài mang lại tiềm năng nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. An ninh lương thực duyên hải Trung Bộ cần được đảm bảo trong quá trình chuyển dịch. Phát triển kinh tế xanh là hướng đi cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững. Cần có chính sách hỗ trợ phù hợp để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực này. Cải thiện hạ tầng giao thông là yếu tố quan trọng để thúc đẩy đầu tư và phát triển.

2.2 Nhân tố thể chế và liên kết vùng

Phân tích vai trò của thể chế, môi trường đầu tư, và liên kết vùng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Chính sách phát triển kinh tế duyên hải Trung Bộ chưa tạo ra được sự liên kết chặt chẽ giữa các tỉnh. Cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương làm giảm hiệu quả phát triển. Cải thiện môi trường đầu tưhoàn thiện thể chế là yếu tố then chốt để thu hút đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Liên kết vùng giúp khai thác tối đa tiềm năng của khu vực. Quản lý tài nguyên duyên hải Trung Bộ cần được cải thiện để đảm bảo sự phát triển bền vững. Đa dạng hóa kinh tế giúp giảm rủi ro và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Ứng phó với biến đổi khí hậu là thách thức lớn cần được quan tâm.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu về tác động của các nhân tố nguồn lực đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Các mô hình kinh tế kinh điển đã chỉ ra các động lực cơ bản để có thể phát triển một nền kinh tế hay chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hiệu quả sẽ dựa trên các nguồn lực về vốn, lao động và khoa học - công nghệ. Dưới đây là phần tổng hợp của nghiên cứu về những tài liệu đi trước đánh giá tác động của các nhân tố vừa đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.

Các nghiên cứu ngoài nước Đề cập đến các nhân tố về nguồn lực ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, nguồn lực về tiền tệ được xem là mấu chốt cho việc tạo động lực cho quá trình. Thứ nhất, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là hệ quả trong quá trình hội nhập quốc tế của các nước đang phát triển. Bên cạnh những nhược điểm vì chịu ảnh hưởng từ nền kinh tế lớn thì nguồn vốn này cũng cho thấy những lợi ích không nhỏ của nó trong quá trình đổi mới của họ. Kayani và cộng sự (2012) trong nghiên cứu của họ về quá trình hội nhập của các nước Đông Á chỉ ra rằng Trung Quốc bị ảnh hưởng lớn bởi vốn đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài.

Do không có được những đổi mới kịp thời về khoa học công nghệ nên các sản phẩm công nghệ của họ xuất khẩu đều dưới sự chỉ huy của các doanh nghiệp có vốn đầu tư không phải từ trong nước. Nhật Bản hay Hàn Quốc là ví dụ cho việc sử dụng nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài mà không chịu sự ảnh hưởng rất hiệu quả, Nhật Bản đi trước và Hàn Quốc theo sau đó trong việc học tập và ứng dụng nhanh chóng những công nghệ mà nước ngoài đầu tư cho họ chứ không cho các tổ chức nước ngoài thành lập những cơ sở sản xuất ngay tại đất nước mình trong thập niên 60 của thế kỷ 20. Những chính sách đúng đắn về tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài tại hai quốc gia hiện tại đã phát triển châu Á trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ hai cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của Nicolas và cộng sự (2013). Nghiên cứu khác về các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, Phillipines, Thái Lan hay các nước thuộc nhóm BRICS (nhóm các quốc gia có nền kinh tế mới nổi) cũng cho thấy ảnh hưởng to lớn của FDI đến sự thay đổi về cơ cấu ngành kinh tế cũng như tăng trưởng (Andreff, 2016; Jongwanich và Kohpaiboon, 2013).

Cũng do ảnh hưởng lan tỏa của động lực do nguồn vốn đến từ các 10 doanh nghiệp lớn từ ngoài nước, các doanh nghiệp trong nước của các quốc gia dần lớn mạnh và phần nào đó là nguồn đầu tư hiệu quả cho quá trình chuyển dịch cơ cấu cũng như tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế, chi tiêu chính phủ và quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hay tăng trưởng kinh tế đều có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, nó không đơn thuần như mối quan hệ tuyến tính trong phân tích hồi quy. Vì vậy, các tác giả có thể đưa ra những kết quả khác nhau dựa vào phương pháp và số liệu họ thu thập được và sử dụng. Sử dụng phương pháp GMM với số liệu của 15 nước đang phát triển trong giai đoạn từ năm 1972 đến năm 1999, Ghosh và Gregoriou (2008) chỉ ra rằng các nước đang phát triển đang phân bổ các nguồn lực của họ một cách không hợp lý, họ chi quá nhiều cho việc đầu tư mà không mang lại hiệu quả tương xứng như là chi thường xuyên.

Và nó hàm ý cho kết luận, chi thường xuyên tăng lên tỷ lệ thuận với tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên chi tiêu cho đầu tư cho một kết quả ngược lại. Nghiên cứu đi trước của Devarajan và cộng sự (1996), Ghafoor và cộng sự (2000); Ranasinghe và Masaru (2014) đều cho kết quả tương tự. Ngoài ra, trình độ khoa học - công nghệ cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Châu Âu là một trong những khu vực có được sự phát triển kinh tế mạnh mẽ nhờ chú trọng vào công nghệ cao, Piekut (2013) so sánh nguồn vốn dành cho khoa học công nghệ tại nhiều quốc gia trên thế giới và đưa ra những nhận định rằng: các nước phát triển hàng đầu ở châu Âu như Phần Lan, Đan Mạch hay Thụy Điển đều dành một lượng vốn cho khu vực này lớn như các cường quốc trên thế giới như Mỹ hay Nhật Bản.

Nguồn ngân sách của chính phủ lớn cùng với những sự đầu tư mạnh mẽ từ khối tư nhân đã mang đến một sự phát triển mạnh mẽ tại các quốc gia này. Điều tương tự cũng được ghi nhận tại Đức hay Áo, những nước đã dành những sự đầu tư đều đặn cho nghiên cứu và phát triển qua một giai đoạn thời gian dài đáng kể. Một điểm sáng nữa được chứng kiến tại châu Á, với Hàn Quốc đã bước vào một trong những nước phát triển trên thế giới sau khi đạt được những thành công xứng đáng vì tập trung vào phát triển công nghiệp công nghệ cao. Điều ngược lại được tác giả chỉ ra tại các nước Đông Âu như Rumani, Bulgari, Litva, Phần Lan, Slovakia và Lít va, sự yếu kém về việc phát triển khoa học và hoạt động sáng tạo tại các doanh nghiệp tư nhân được phân tích trong nghiên cứu.

Duy nhất tại khu vực này chứng kiến sự khác biệt trong nhận thức về công nghệ cao đó là Slovenia với một nguồn vốn dồi dào dành cho việc tạo ra những hoạt động kinh doanh với kỳ vọng mang đến năng suất cao hơn trong tương lai. Bên cạnh đó, các quốc gia khác của châu Âu như Estonia, Cộng hòa Séc hay Hungary được tác giả đánh giá là các quốc gia theo kịp với xu hướng nhờ 11 việc dành những khoản đầu tư đáng kể cho khoa học và sự thay đổi trong việc đa dạng hóa các loại hình kinh doanh năng động, hiệu quả hơn. Tựu chung lại, tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu và phát triển được nhà nghiên cứu chứng minh trong nghiên cứu của mình tại khu vực Trung cũng như Đông Âu. Ngoài ra, việc liên kết giữa sự đầu tư và doanh nghiệp đã mang đến những giải pháp sáng tạo mới, nó gián tiếp tạo ra tăng trưởng doanh số của khu vực sản xuất cũng như tiết kiệm được nguồn lực, chi phí.

Cũng nhận ra được một hệ thống hiệu quả trong việc đầu tư khoa học và công nghệ tại Estonia và Hàn Quốc, Kshetri (2014) phân tích việc tạo ra một hệ sinh thái giữa chính quyền với các doanh nghiệp để mang đến sự khác biệt trong con số tăng trưởng kinh tế tại đây. Vai trò của các tổ chức tư nhân được nhắc đến rất cụ thể trong hoạt động hiệu quả của hệ sinh thái này, trong khi Estonia chứng tỏ được sự hiệu quả hơn trong chất lượng của các tổ chức thì Hàn Quốc cho thấy sự mạnh mẽ của mình trong việc liên kết giữa chính phủ và các doanh nghiệp. Sự đa dạng trong việc phát triển công nghệ cao được Hàn Quốc phát huy nhưng Estonia nhờ việc tạo ra những tổ chức nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp đã mang đến cho họ nhiều cơ hội hơn để phát triển mặc dù hiện tại những phát triển cơ bản chỉ thấy ở mảng công nghệ thông tin. Việc xác định rõ ràng vai trò của khoa học và công nghệ đã mang đến cho hai chú hổ của châu Á và vùng Baltic này những phát triển vượt bậc qua những con số phát triển ấn tượng của họ trong giai đoạn từ 1995 đến 2013.

Cộng đồng khởi nghiệp tại hai quốc gia này được tạo điều kiện tối đa để gia nhập và phát triển, 78,3 % các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Hàn Quốc sống sót trong năm năm đầu của họ và 69,3% duy trì hoạt động trong vòng 10 năm tiếp theo. Con số tại Estonia là 57% trong năm năm đầu tiên (Lee, 2003). Ngoài những nghiên cứu về các quốc gia đã thành công trong việc thay đổi cơ cấu ngành kinh tế thông qua đầu tư vào nghiên cứu công nghệ thì cũng có những nghiên cứu chỉ ra những yếu kém trong việc phát triển kinh tế do không chú trọng vào khu vực này, Fedulova (2013) trong nghiên cứu của mình đã phân tích thực trạng của Liên bang Nga và Ukraina trong quá trình phát triển kinh tế từ năm 2000 đến 2011 và nêu ra rằng chính việc thiếu đầu tư nguồn vốn xứng đáng cũng như cơ chế chính sách dành cho khu vực doanh nghiệp chính là lý do làm hai nền kinh tế này tụt hậu so với các cường quốc khác trên thế giới. Kết luận tương tự cũng được Gomułka (2016) kết luận trong nghiên cứu của tác giả.

Mặc dù đạt được những thành tựu nhất định trong quá trình chuyển dịch kinh tế với GDP tăng gấp 2,3 lần vào năm 2013 so với chỉ tiêu cùng kỳ năm 1989, tuy nhiên với lượng vốn dành cho khoa học công nghệ của cả Chính phủ hay khu vực tư nhân ít ỏi, hệ thống hỗ trợ sáng tạo khoa học đối mặt với nhiều rủi ro và không có được sự vững vàng trong quá trình đổi mới và phát triển của mình. 12 Năng suất và chất lượng của lao động cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng rõ rệt đến chuyển dịch cơ cấu ngành, những nghiên cứu trong giai đoạn trước những năm 2000 tập trung ở các nước công nghiệp phát triển. Vì vậy, kết quả thu được tương đối giống nhau. Fagerberg (2000) cũng cho rằng thay đổi trong cơ cấu lao động cũng tác động không nhỏ tới năng suất lao động và từ đó tác động gián tiếp tới tăng trưởng kinh tế tại vương quốc Anh trong nửa đầu của thế kỷ 20.

Ngoài ra, sự thay đổi của năng suất lao động cũng được tác giả đánh giá thông qua số liệu của khu vực chế biến - chế tạo trong thời kỳ 1973-1990 tại 39 quốc gia trong đó bao gồm cả các nước đang phát triển. Vai trò của công nghệ mới cũng được chỉ ra ở đây, thời gian đầu của cách mạng công nghiệp, mối quan hệ đơn thuần chỉ giữa sản lượng, năng suất và việc làm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại khu vực duyên hải Trung Bộ" phân tích những yếu tố chính tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong khu vực này. Tác giả đã chỉ ra rằng sự phát triển kinh tế không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố nội tại của từng ngành mà còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài như chính sách, môi trường đầu tư và sự phát triển hạ tầng. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức mà các nhân tố này tương tác và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về bối cảnh kinh tế khu vực duyên hải Trung Bộ.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận án Tiến sĩ: Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Ninh Bình từ năm 1992 đến nay và những giải pháp hiệu quả, nơi cũng đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Bên cạnh đó, Chính sách phát triển kinh tế bền vững đối với dân tộc thiểu số trên địa bàn Tây Nguyên cũng là một tài liệu hữu ích, liên quan đến các chính sách phát triển kinh tế trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ về nghiên cứu liên kết kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các mối liên hệ kinh tế trong khu vực này. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm nhiều góc nhìn và thông tin bổ ích cho bạn.