Chương I: Cở sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Chương II: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phó Hồ Chí Minh Chương III: Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành Hàng tiêu dùng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phó Hồ Chí Minh Chương IV: Hàm ý rút ra từ kết quả nghiên cứu. CHUONG 1 CO SO LY THUYET VA CAC NGHIEN CUU THỰC NGHIEM VE CAU TRUC VON CUA DOANH NGHIEP 1.1 CAU TRUC VON CUA DOANH NGHIEP 1.1 Khái niệm về cấu trúc vốn Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau để đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, điều quan trọng là doanh nghiệp cần phối hợp sử dụng các nguồn vốn để tạo ra một cơ cấu nguồn vốn hợp lý đưa lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp Cấu trúc vốn của doanh nghiệp là quan hệ vẻ tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu, bao gồm vốn cỗ phẩn ưu đãi và vốn cổ phần thường trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp.
Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp thường biến động trong các chu kỳ kinh doanh và có thể ảnh hưởng tích cực đến lợi ích của chủ sở hữu. Vì vậy việc xem xét lựa chọn điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn tối ưu luôn là một quyết định tài chính quan trọng của chủ doanh nghiệp.2 Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn thể hiện chính sách tải trợ trong dài hạn của doanh nghiệp nên khi phân tích cấu trúc vốn cần xem xét khả năng sử dụng nguồn vốn tự có. của doanh nghiệp hay phải sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài doanh nghiệp.
Có nhiều chỉ tiêu phản ánh khả năng này, việc lựa chọn chỉ tiêu nào tủy thuộc. vào ý nghĩa mà chỉ tiêu đó mang lại cho người sử dụng và phù hợp với mục. tiêu cần xem xét. Một số chỉ tiêu được sử dụng phô biến như: Nợ phải trả Tống tài sản X 100% Tỷ suất nợ =Tổng nan Chỉ tiêu tỷ suất nợ phản ánh nợ phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm trong.
tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, hay nói cách khác trong tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêu phần trăm được hình thành bằng nguồn nợ phải trả. Nợ phải trả Tỷ suất nợ trên uốn chủ sở hữu = Von chi sé hvu’ x100%. Chỉ tiêu ty suất nợ trên vốn chủ sở hữu hay còn gọi là đòn bẩy ng thé hiện mức độ đảm bảo nợ bởi vốn chủ sở hữu, phản ánh tính tự chủ tài chính, năng lực tài chính và khả năng chủ động của doanh nghiệp về nguồn vốn kinh doanh. Ý nghĩa nghiên cứu cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Nhằm xác định cấu trúc vốn hợp lý nhất, xem xét việc vay nợ là có lợi hay bắt lợi cho doanh nghiệp. Với những mục tiêu kinh doanh nhất định mà nhà quản trị tài chính doanh nghiệp sẽ căn cứ vào đặc điểm nguồn vn, căn cứ vào mỗi quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro dự kiến đề quyết định cấu trúc vốn. Khi doanh nghiệp vay nợ, trước hết đó là nhu cầu tự thân của quá trình phát triển kinh doanh, hơn nữa doanh nghiệp cũng kỳ vọng vốn vay sử dụng. có hiệu quả sẽ góp phần gia tăng lợi nhuận của vốn chủ sở hữu, gia tăng lợi ích của cỗ đông, đáp ứng mục tiêu quản lý tài chính doanh nghiệp.
việc tăng cường sử dụng nợ cũng xuất hiện khả năng rủi ro về tài chính, đó là sử dụng vốn vay kém hiệu quả hay nền kinh tế biến động bắt lợi sẽ tác động. tiêu cực làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán lãi và nợ vay khi đến hạn sẽ dẫn đến doanh nghiệp có nguy cơ phá sản.2 CAC LÝ THUYET VE CAU TRUC VON 1.1 Ly thuyét M&M Ly thuyét MM durge Franco Modigliani va Merton Miller néu ra lần đầu tiên trong bài nghiên cứu “Chỉ phí sử dụng vốn, tài chính doanh nghiệp và lý thuyết đầu tư” đăng trên tạp chí American Economic Review vào năm 1958. Nghiên cứu đoạt giải Nobel kinh tế của M&M có thể xem là linh hồn của lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại.
Theo MM, trong điều kiện thị trường vốn hoàn hảo, giá trị của một doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn, và không có cấu. trúc vốn tối ưu cho một doanh nghiệp cụ thể. Tuy nhiên, các giả định của thị trường hoàn hảo của học thuyết MM như: không có chỉ phí giao dịch, không. có thuế, thông tin đối xứng, lãi suất vay và cho vay như nhau là mâu thuẫn với các hoạt động trong thế giới thực.
Trong nghiên cứu tiếp theo của họ, vào. các năm 1963 va 1977, Modigliani va Miller néi rộng giả định của họ bằng cách đưa thêm các nhân tố thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu_ nhập cá nhân vào trong mô hình nghiên cứu của mình. Lý thuyết MM được phát biểu dưới hai mệnh đề: mệnh đề thứ nhất (I) nói về giá trị DN, mệnh đề thứ hai (II) nói về chỉ phí sử dụng vốn. Và cả hai mệnh để này được xem xét trong hai trường hợp có thuế thu nhập và không.
có thuế thu nhập. “Trường hợp không có thuế thu nhập Lý thuyết MM (1958) được xây dựng dựa vào các giả định của thị trường vốn hoàn hảo: + Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân + Không có chỉ phí giao dịch + Không có chỉ phi phá sản và chỉ phí kiệt quệ tài chính + Cá nhân và công ty đều có thể vay hay cho vay ở mức lãi suất như nhau Với các giả định trên, lý thuyết M&M phát biểu như sau: Mệnh đề thứ nhất: trong điều kiện không có thuế, giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị của công ty không có vay nợ, tức là. Hay nói cách khác là trong điều kiện không có thuế, giá trị công ty có vay nợ và không vay nợ là như nhau, do đó cơ cấu nợ/vốn không có ảnh huởng gì đến giá trị công ty. Theo định đề này, một _DN không thể thay đôi tông giá trị các chứng khoán của mình bằng cách phân chia các dòng tiền thành các dòng khác nhau: giá trị của DN được xác định bằng các tài sản thực, chứ không phải bằng chứng.
khoán mà DN phát hành. Như vậy, không có cơ cấu vốn nảo là tối ưu và công. ty cũng không thể làm tăng giá trị của mình bằng cách thay đổi cấu trúc vốn. Mệnh đề thứ hai: lợi nhuận yêu cầu trên vốn cô phần hay tỷ suất sinh lợi dự kiến từ vốn cỗ phần thường của 1 DN có vay nợ tăng tương ứng với tỷ lệ nợ/vốn cô phần, được đo lường bằng giá trị thị trường, tức là lợi nhuận yêu cầu trên vốn cô phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bây tài chính hay tỷ số nợ.
“Trường hợp có thuế thu nhập Việc giả định không có thuế thu nhập là không phù hợp với thực tế Thực vậy, trên thực tế luôn tổn tại các bất hoàn hảo của thị trường như: thuế, sự bất cân xứng thông tin, .Chính vì vậy, MM tiếp tục nghiên cứu về tác động của thuế trong cấu trúc vốn và công bố nghiên cứu “Thuế thu nhập DN và chỉ phí sử dụng vốn” trên tạp chí American Economic Review vào năm 1963. Nghiên cứu này xem xét mối liên hệ giữa CTV và giá trị DN có tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập DN, Mệnh đề thứ nhất: Trong trường hợp có thuế thu nhập công ty, giá trị của DN có vay nợ bằng giá trị DN không có vay nợ cộng với hiện giá của tắm. Mệnh đề thứ hai: Trong trường hợp có thuế, lợi nhuận yêu cầu trên vốn cỗ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tải chính hay tỷ số nợ và mối quan hệ này đuợc diễn tả bởi công thức. Nhu vậy, theo MM, trong trường hợp có thuế, giá trị công ty sẽ tăng lên và chỉ phí sử dụng vốn trung bình sẽ giảm xuống khi công ty gia tăng việc sử.
Tuy nhiên, trên thực tế, rất nhiều DN tăng trưởng tốt nhưng thay vì có một CTV với tỉ lệ nợ tối đa nhằm tận dụng lợi ích của tắm chắn thuế thì họ lại không sử dụng nợ hoặc sử dụng nợ ở mức rất thấp. Tiết kiệm thuế ròng = PV tắm chắn thuế - PV chỉ phí kiệt qué tai chính Một số tác giả khác cho rằng trên thực tế giá trị công ty sẽ không tăng mãi Khi tỷ số nợ gia tăng, bởi vì khi tỷ số nợ gia tăng làm phát sinh một loại chỉ phí, gọi là chỉ phí kiệt quệ tài chính (financialdistresscosts), và kết quả là làm giảm đi sự gia tăng giá trị của công ty có vay nợ. Theo các tác giả này, ty số nợ sẽ gia tăng tới một điểm mà tại đó, chỉ phí kiệt quệ tài chính sẽ vuợt qua. lợi ích của tắm chắn thuế, và khi ấy giá trị công ty có vay nợ bắt đầu giảm dần.
Lý luận tương tự, chỉ phí sử dụng vốn trung bình của công ty bắt đầu tăng lên Như vậy, với lợi thế của nợ, việc vay nợ có thể là hành vi không oan đối với các DN đủ khả năng trả nợ. Tuy nhiên, đối với các DN gặp nhiều khó khăn trong việc đạt đủ lợi nhuận để hưởng lợi từ tắm chắn thuế thu nhập DN, việc vay nợ quá nhiều có thể đẩy công ty đến tình trạng kiệt qué vé tai chính và thậm chí phá sản Giá trị DN = Gia trị DN nếu được tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần + PV(tắm chắn thuế) — PV (chỉ phí kiệt quê tài chính) 1.2 Lý thuyết trật tự phân hạng Một lý thuyết về cấu trúc vốn khác được phát triển bởi nghiên cứu của Myer va Majlu năm 1984. Lý thuyết này được phát triển từ nghiên cứu đầu tiên của Donaldson năm 1961, lý giải các quyết định tài trợ của doanh nghiệp dựa trên cơ sở thông tin bất cân xứng. Thông tin bắt cân xứng là một cụm từ.
để chỉ rằng các giám đốc tải chính hiểu rõ giá trị của công ty mình hơn là các nhà đầu tư bên ngoài. Thông tin bắt cân xứng tác động đến lựa chọn giữa tài trợ nội bộ và tải trợ từ bên ngoài; giữa phát hành mới chứng khoán nợ và chứng khoán vốn.