đặt vấn đề đối với những thành quả được coi là tuyệt đối đúng một cách cơ giới. Những khám phá mới cũng đã chứng minh những điều ngược lại cho thấy sự phi lý của lý trí thực nghiệm. Một sự chuyển mình thực sự đang diễn ra trong khoa học và đời sống, phá vỡ những xơ cứng trong vật lý học cổ điển, thúc đẩy vật lý học mới phát triển lên một tầm cao, đi đến những khám phá sâu hơn về thế giới. Tuy nhiên, khủng hoảng mà Husserl muốn nói đến thực ra không hẳn là khủng hoảng của bản thân khoa học, vì trong tiến trình phát triển, tất yếu nó 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sẽ bị vượt qua.
Trong suy tư triết học của Husserl, khủng hoảng mà ông muốn nhắc tới là khủng hoảng về nguồn gốc của khoa học, về ý nghĩa của nó, về tất cả bầu không khí văn hóa, lịch sử mà khoa học hoạt động. Husserl coi đó là khủng hoảng nền tảng, khủng hoảng chung, mang tính nhân loại. Từ đây, mắt xích trong hệ thống dây chuyền khoa học ấy đồng thời bị phá vỡ trong nhiều lĩnh vực: Vũ trụ học (lý thuyết về vũ trụ không đứng yên), hóa học (hóa học lượng tử), sinh học và điều khiển học. Những thay đổi trên đây đã tác động nhiều đến triết học thời kỳ này.
Bên cạnh vật lý học, khoa học toán học cũng trải qua những biến động. Sự phát triển của tư tưởng phân tích trong toán học đã kéo theo sự sụp đổ của tư tưởng triết học và khoa học cuối thế kỷ XIX. Giữa toán học và triết học có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cho nên từ những thay đổi của toán học cũng tạo ra ảnh hưởng của triết học. Sự phát triển trong lôgic hình thức của toán học nhất là lôgic ký hiệu gắn với phương pháp phân tích bản chất những dữ kiện là chủ yếu đã song song trở thành phương pháp phân tích của triết học.
Trong toán học, với sự xuất hiện của nhiều khám phá mới khiến mọi người lo ngại trước sự không thể của môn khoa học chính xác này. Vốn được coi là phương pháp trong tư duy khoa học, từ đây toán học đang đứng trước những nghi ngờ của cuộc sống. Tóm lại, sự phát triển của chủ nghĩa duy lý cuối thế kỷ XIX đã làm thay đổi bộ mặt đời sống xã hội. Đồng thời, nó cũng bộc lộ vết rạn, gây lên cuộc khủng hoảng trong đời sống tinh thần, văn hóa của châu Âu, con người phương Tây.
Thêm vào đó là cuộc khủng hoảng trong khoa học cổ điển. Bắt nguồn từ những bế tắc trên, hiện tượng học Husserl ra đời được xem như là triết học về sự khủng hoảng. Chính ước muốn phát triển một phương pháp riêng để khắc phục những hạn chế trên đã đưa Husserl sáng tạo hiện tượng học tiên nghiệm của ông. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời hiện tượng học Husserl Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng tư tưởng ở châu Âu đã xảy ra. Nguồn gốc của sự rạn nứt đó là chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa cơ giới. Con người hoài nghi trước những giá trị độc tôn của chủ nghĩa duy lý từng đem lại. Người ta không thể quy những giá trị khoa học nhân văn vào những tổng hợp lý hóa được; con người phải là những chủ thể độc lập tạo nên sự khách quan của khoa học.
Đây cũng là cuộc khủng hoảng của con người phương Tây hiện đại, phản ánh sự ngây thơ của chủ nghĩa duy lý hiện đại với quan niệm cho rằng: Quan hệ giữa tự nhiện và tinh thần có thể nghiên cứu theo kiểu nguyên nhân kết quả, trong đó nền tảng của thực tại ấy là hệ thống vật chất. Người ta đã cố gắng áp dụng nghiên cứu vật lý dựa trên phương pháp thực nghiệm cho những nghiên cứu tâm lý, ý thức. Nghiên cứu về khoa học tinh thần độc lập bị bác bỏ. Quan niệm của Husserl đã phá bỏ cách hiểu trên về sự đồng nhất chủ nghĩa tự nhiên và đời sống vật chất, tinh thần.
Ông cho rằng không thể dùng phương pháp nghiên cứu của vật lý để nghiên cứu tâm lý, ý thức con người được. Đời sống ý thức con người, sinh hoạt tâm lý con người không thể có cơ chế của cái vật lý. Ông cũng phân biệt giữa sự vật cảm tính (cái cho ta phản ánh có thể lặp lại, có bản tính) và tâm thể (cái thực tại tâm lý, ý thức con người, có bản chất). Vì thế, con người phải trở thành đối tượng của khoa học.
Husserl đã khắc phục khủng hoảng tư tưởng trên bằng cách tìm ra một nền tảng nghiên cứu mới: Hiện tượng học. Sự ra đời của hiện tượng học Husserl ra đời còn chịu ảnh hưởng của nhiều học thuyết triết học trước đó như quan niệm về đối tượng của tư duy của Parmenides, thuyết duy nghiệm của John Locke, học thuyết về Cogito (cái Tôi tư duy) của Descartes, chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của Kant, tâm lý học của Franz Brentano và thuyết thực dụng của William James. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Parmenides (500-449 TCN) là nhà triết học Hy Lạp cổ đại thuộc trường phái Elê, người được Socrates đánh giá là nhà tư tưởng sâu sắc khác thường. Được Hegel coi là người đặt nền móng cho chủ nghĩa duy lý phương Tây, Parmenides cũng là người đầu tiên trong lịch sử triết học mà các nhà hiện tượng học cần phải hàm ơn.
Trong lĩnh vực nhận thức luận, Parmenides đã dành nhiều thời gian để bàn về tính có đối tượng của tư duy mà trên cơ sở đó nhà sáng lập hiện tượng học sau này xây dựng thành học thuyết về tính ý hướng. Khi trình bày về học thuyết tồn tại của mình, Parmenides đã đưa ra một luận điểm nổi tiếng: “Tư duy và cái tư duy là một, tư duy và tồn tại là đồng nhất”. Theo ông, tồn tại không thuần túy là vật chất, hay tồn tại không thuần túy là tinh thần. Tồn tại là sự đồng nhất của vật chất và tinh thần.
Hạt nhân hợp lý của tư tưởng này là mọi tư duy của con người bao giờ cũng là tư duy về một cái gì đó. Nó chỉ được gọi là tư duy khi được đặt trong mối quan hệ với đối tượng của nó. Cũng có nghĩa là, tư duy là tư duy vì có cái để tư duy. Vì thế không bao giờ có tư duy nào là tư duy trống không, tư duy thuần tuý, tư duy phi tồn tại.
Và tồn tại sẽ là hư vô nếu tư duy của con người không hướng tới. Quan điểm này của Parmenides là quan điểm về mối quan hệ không thể tách rời của chủ thể và khách thể trong quá trình nhận thức theo khuynh hướng duy tâm. Về sau các nhà hiện tượng học gọi nó là tính ý hướng của tư duy. John Locke (1632-1704) là nhà triết học duy nghiệm người Anh, cũng là người đã chuẩn bị những tiền đề tư tưởng cho nhận thức luận trong hiện tượng học Husserl.
Trước Locke cũng có một số các nhà duy nghiệm như Bacon, Hobbes nhưng chỉ đến Locke mới giải thích rõ ràng cách thức hoạt động của tinh thần, ý thức. Phạm vi nhận thức của con người theo ông bị giới hạn bởi kinh nghiệm. Tri thức mà con người có được nhờ nhận thức bằng kinh nghiệm được Locke gọi là “ý niệm”. Ông cũng phân biệt giữa kinh 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệm cảm tính bên ngoài và kinh nghiệm bên trong (có sau khi kinh nghiệm cảm giác mang lại).
Với đối tượng kinh nghiệm, ông cũng chia thành hai loại là đặc tính sơ cấp với những thuộc tính như khối lượng, thể tích gắn với đối tượng; đặc tính thứ cấp là âm thanh, mùi vị mang phẩm chất của đối tượng. Tuy vậy, trong việc miêu tả quá trình nhận thức, Locke đã tách biệt hai giai đoạn trên. Sau này, Husserl đã kết hợp hai quá trình nhận thức này trên cơ sở tư liệu mà cảm tính đem lại với quá trình so sánh, phân tích tạo ra các phạm trù, khái niệm của lý tính cung cấp, kết hợp với học thuyết tiên nghiệm của Kant và phương pháp trực giác của ông để góp phần xây dựng học thuyết nhận thức luận hiện tượng học hoàn chỉnh. René Descartes (1596 - 1650) là nhà triết học người Pháp.
Suốt thời Trung cổ, triết học chịu ảnh hưởng lớn của tôn giáo và thần học. Nhưng sang thời kỳ Phục hưng - Cận đại, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, triết học đã phát triển lên một tầm cao mới. Triết học thời kỳ Phục hưng - Cận đại, sau hơn ngàn năm của “đêm trường Trung cổ”, đang cố gắng để nhận thức lại thế giới sau một thời gian dài bị lãng quên. Và dường như chưa thoát khỏi nỗi khiếp sợ bị áp đặt về mặt nhận thức từ phía tôn giáo nên tư tưởng hoài nghi xuất hiện không ít trong giai đoạn này.
Người ta vẫn còn sự e sợ phải nhầm lẫm giữa chân lý của thần học, tôn giáo với chân lý của khoa học. Họ vẫn nói với nhau rằng: “Tốt hơn đừng cho là đúng bất cứ điều gì, cả các khẳng định tôn giáo lẫn các khẳng định khoa học. Vì làm thế nào một người có thể biết được quan điểm về thực tại nào là đúng?” [51, tr. Mỗi quan điểm về thế giới đều tự cho mình là đúng, là con đường duy nhất đẫn đến tri thức, không ai chịu nhượng bộ ai.Descartes là biểu tượng cho xu hướng hoài nghi này.
Ông là một trong số các nhà khoa học tự nhiên, nhà triết học mới đang đặt một dấu hỏi lớn đối với những hệ thống tri thức truyền thống, bao gồm cả triết học. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Descartes bắt đầu con đường khoa học của mình bằng cách đòi phải tẩy rửa khỏi trí tuệ của chúng ta những ám ảnh đang ngăn cản tính linh hoạt và nhạy bén của tư duy trong sự phát triển của nó. Ông đề ra một phương pháp triết học mới, gọi là phương pháp hoài nghi. Đó là một phương pháp bắt đầu bằng tính ngờ vực triết học về mọi thứ có thể bị nghi ngờ.
Ngay cả những gì từ trước đến nay được coi là chắc chắn nhất, hiển nhiên nhất cũng bị Descartes đưa vào một “hệ quy chiếu” mới của vị quan tòa lý tính. Trong đó, cả những chân lý cơ bản nhất của số học và hình học cũng bị ông nghi ngờ ngay từ đầu. Descartes khẳng định rằng không thể chắc chắn một cái gì là thật cả. Mọi cái mà chúng ta được biết, hiện ra trước mắt chúng ta có thể là nó không phải như thế.
Tức là, ông khẳng định giữa bản chất và hiện tượng, nói chung, là không đồng nhất với nhau.