mở đầu bằng Copecnic và kết thúc vào giữa thế kỷ XVIII đã bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học tự nhiên. Cuộc cách mạng đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với triết học đƣơng thời. Bƣớc đầu nó đã khắc phục những trở ngại của phƣơng pháp tƣ duy siêu hình thống trị suốt mấy thế kỷ, qua đó tạo tiền đề cho sự hình thành một phƣơng pháp nhận thức mới – phƣơng pháp biện chứng, với sự kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, giữa quy nạp và diễn dịch, giữa trực quan cảm tính và tƣ duy trừu tƣợng nhằm nhận thức thế giới một cách sâu sắc hơn. Sự ảnh hƣởng của khoa học tự nhiên tới triết học nói chung và sự lựa chọn đi theo chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của I.
Kant nói riêng đƣợc ông đề cập tới trong “Lời tựa cho lần xuất bản lần thứ hai (1787)” cho cuốn “Phê phán lý tính thuần túy”: “Khi Galilei cho những viên bi có trọng lƣợng do ông 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tự lựa chọn trƣợt xuôi theo một mặt phẳng nghiêng, hay Torricelli để cho không khí mang một trọng lƣợng mà ông tự nghĩ ra từ trƣớc ngang bằng với trọng lƣợng của một cột nƣớc đã biết, hay muộn hơn, khi Stahl chuyển hóa kim loại thành vôi và lại chuyển hóa thành kim loại bằng cách rút bớt đi và cho thêm trở lại một cái gì đấy nơi chúng, thì cũng có một tia sáng lóe lên trong đầu óc của mọi nhà nghiên cứu tự nhiên. Họ hiểu ra rằng lý tính chỉ nhận ra những gì do bản thân nó tạo ra theo phác họa của nó…bắt buộc tự nhiên phải trả lời cho các câu hỏi của nó, chứ không chỉ chịu để cho tự nhiên dẫn dắt” [21, 41-42]. Gần một thế kỷ sau, tại Anh xuất hiện nhà toán cơ kiêm triết học Niutơn, với sự ra đời của cuốn Nguyên tắc toán học có ý nghĩa không kém gì cuốn Về sự vận động của các thiên thể của Copecnic. Những tri thức khoa học tự nhiên của Niutơn đã tác động lớn đến quan điểm khoa học của I.
Kant cả về nội dung lẫn phƣơng pháp nghiên cứu. Kant cho rằng phƣơng pháp của Niutơn trong khoa học tự nhiên đã biến sự tùy tiện của các giả thuyết vật lý thành một phƣơng pháp nghiên cứu đáng tin cậy, là phƣơng pháp dựa vào kinh nghiệm và hình học. Tƣ duy sáng tạo mạnh mẽ của Niutơn là động lực mạnh mẽ tiếp sức cho I. Kant trong việc nghiên cứu triết học lý luận, mà tiêu biểu là tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy.
Kant nhận thấy rằng triết học cũng giống nhƣ khoa học tự nhiên phải dựa vào những kinh nghiệm cảm tính, quan sát thực nghiệm và cả lý tính trong đó lý tính đóng vai trò quan trọng bậc nhất. Niutơn (Anh), Đềcáctơ (Pháp), Lépnit (Đức) đã đƣa toán học vận dụng vào sản xuất và đời sống xã hội, đối tƣợng của toán học vƣợt ra khỏi dạng tĩnh, vƣơn sang dạng động. Các nhà khoa học đã chỉ ra một cách hệ thống những hình thức vẫn động của vật chất vƣợt lên trên cách hiểu cơ học, lý học, hóa học, sinh học. Việc phát minh ra điện và sử dụng điện năng đã góp phần tạo ra bƣớc nhảy vọt của phát triển 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản xuất từ công trƣờng thủ công tới công trƣờng cơ khí, đồng thời chứng thực những phát triển đầu tiên của khoa học về sự bảo toàn và biến hóa năng lƣợng và vật chất của vũ trụ.
Lômônôxốp chứng minh bằng thực nghiệm luật “Bảo toàn và chuyển hóa năng lƣợng”. Nhà hóa học Pháp Lavoisier dựa vào những phát minh hóa học, bác bỏ quan niệm về sự tồn tại của một vật chất đặc biệt: chất cháy không trọng lƣợng, đặt nền móng cho sự cháy và ôxy hóa nói chung. Sau sự sụp đổ của thuyết chất cháy, khoa học tự nhiên dù chƣa bác bỏ hết những “chất không trọng lƣợng” khác nhƣ “chất nhiệt”, “chất ánh sáng”, “chất âm thanh”…nhƣng đã khám phá ra rằng nhiệt, ánh sáng, âm thanh…đều là những hình thức vận động khác nhau của vật chất. Với nguyên lý cấu tạo hóa học khác nhau của vật thể do Đantơ khám phá ở Anh, ngƣời ta đã giải thích đƣợc rằng những thay đổi về chất của vật thể đều phụ thuộc vào cấu tạo lƣợng của nó.
Sự phân tích quá trình hóa học đã làm thay đổi quan niệm máy móc coi vận động chỉ là sự chuyển dịch đơn giản của sự vật. Gơtơ nêu lên nhiều quan niệm tiên tiến về giải phẫu học so sánh và về địa chất học. Nghiên cứu vật hóa thạch trong lòng đất, Cuvier chứng minh giới thực vật và động vật đều có sự phát triển theo quá trình địa chất của trái đất. Tiến hóa luận của Lamác và Wolff bác bỏ “dự thành luận” với quan niệm cho rằng mọi sinh vật sinh ra đều có dự định sẵn, đều nhất thành, bất biến.
Trong sinh học có dự báo về sự phát triển trong sinh học - bào thai đã mang trong nó mọi dấu hiệu của một sinh vật trƣởng thành, do đó không có gì mới xuất hiện mà không có nguồn gốc của nó. Vai trò của khoa học tự nhiên đối với sự phát triển của triết học một lần nữa đƣợc Ph.Ănghen đánh giá trong tác phẩm “Lútvich Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”: “Trong suốt thời kỳ lâu dài từ Đềcáctơ đến Hêghen, Từ Hốpxơ đến Phoiơbắc, cái thúc đẩy các nhà triết học tiến lên hoàn 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com toàn không phải là sức mạnh của tƣ duy thuần túy nhƣ họ tƣởng tƣợng. Trái lại cái thật ra đã thúc đẩy họ tiến lên chủ yếu là sự phát triển mạnh mẽ, ngày càng nhanh chóng và ngày càng mãnh liệt của khoa học tự nhiên và của công nghệ”[3, 407]. Nhƣ vậy, những thành tựu của khoa học tự nhiên đạt đƣợc đã đem đến cho I.
Kant quan niệm mới về sức mạnh và khả năng trí tuệ của con ngƣời trong việc nhận thức và cải tạo thế giới. Có thể nói, những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và khoa học tự nhiên là những động lực không thể thiếu, góp phần hình thành triết học I. Chính những điều kiện tiền đề đó đã tạo nên diện mạo triết học cổ điển Đức nói chung và triết học I. Kant nói riêng, đặc biệt là quan niệm về “Vật tự thân” độc đáo và riêng biệt trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy.
Những tiền đề lý luận Nằm trong lòng của thời Cận đại nƣớc Đức với những điều kiện kinh tế - xã hội kém phát triển nhƣng “triết học I. Kant đã xuất hiện với ánh sáng tân kỳ của một tƣ tƣởng “tân tiến” [21, L – Dẫn luận, Thái Kim Lan]. Lịch sử tƣ tƣởng chứng minh rằng, các học thuyết tƣ tƣởng tiến bộ có thể nảy sinh trong lòng một nƣớc có trình độ kinh tế lạc hậu hơn, nếu nó biết tiếp thu thành tựu mọi mặt của các nƣớc tiến bộ khác. Ở Pháp vào thế kỷ XVIII, nền kinh tế kém phát triển hơn Anh, nhƣng lại hình thành chủ nghĩa duy vật F.
Điđrô…do dựa trên những thành tựu của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII và chủ nghĩa duy vật Hà Lan (Xpinoza). Nƣớc Đức cũng nằm trong sự phát triển tƣ tƣởng vƣợt thời đại ấy. Kinh nghiệm lịch sử của cuộc cách mạng Anh thế kỷ XVII, cũng nhƣ của cách mạng Pháp thế kỷ XVIII đã có ảnh hƣởng trực tiếp đến sự phát triển của nƣớc Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Triết học cổ điển Đức đã tiếp thu di sản tƣ tƣởng phong phú của triết học nhân loại.
Là một triết gia tiêu biểu của nền triết học cổ điển Đức, I. Kant đã không nằm ngoài sự ảnh hƣởng mạnh mẽ của dòng chảy tƣ tƣởng nhân loại. Ông đã phát triển triết học của mình nhƣ là kết quả của quá trình tiếp thu và phê phán nhiều trào lƣu triết học quá khứ và đƣơng thời. Rút gọn lại, tiền đề lý luận của triết học I.
Kant là chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm, trong đó có tính đến yếu tố biện chứng của truyền thống tƣ tƣởng Đức kế thừa từ thời cổ Hy Lạp. Tiền đề lý luận thứ nhất là chủ nghĩa duy lý bao gồm những học thuyết siêu hình xuất phát từ luận điểm về sự thống nhất giữa tƣ duy và tồn tại trên cơ sở các quy luật lôgíc hình thức của tƣ duy. Kant tổng kết trào lƣu duy lý kể từ học thuyết ý niệm của Plato đến học thuyết đơn tử của G. lépnít và rút ra điểm chung về nhận thức luận của trào lƣu này là biến tƣ duy thành bản thể của thế giới mà không đếm xỉa đến kinh nghiệm, cảm giác của con ngƣời, biến những quy luật lôgíc hình thức của tƣ duy thành quy luật chung của mọi tồn tại mà không quan tâm đến nội dung của nó.
Vì vậy những ý niệm về Thƣợng đế, Vũ trụ, và Sự bất tử của linh hồn chỉ là những khái niệm trống rỗng, không có nội dung, mà các nhà duy lý tƣởng tƣợng ra rồi không chứng minh đƣợc sự tồn tại vững chắc của những ý niệm ấy. Nhƣ vậy, chủ nghĩa duy lý chỉ sử dụng lý tính mà không quan tâm đến trực quan, trong khi lý tính của họ không đƣợc kiểm tra về khả năng và phạm vi hoạt động khả hữu. Có nghĩa là họ buông thả cho lý tính suy tƣởng về mọi vấn đề xa rời khỏi lĩnh vực kinh nghiệm, tạo ra những tri thức siêu hình, rồi đem những tri thức siêu hình ấy áp đặt trở lại cho thế giới tồn tại. Phƣơng thức sử dụng lý tính nhƣ thế là mang tính giáo điều.
Siêu hình học đƣợc hình thành trên cơ sở nguyên tắc lý tính nhƣ vậy không thể trở thành khoa học thực sự. Cách đặt vấn đề ấy của I.Kant đã đƣa siêu hình học trƣờng ốc G. Wolff với tƣ cách là 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hệ thống duy lý đỉnh cao điển hình trở thành đối tƣợng phê phán chủ yếu của Phê phán lý tính thuần tuý. Chủ nghĩa duy lý cận đại không phải không có những thành công nhất định, đặc biệt là trong việc góp phần đánh đổ hệ tƣ tƣởng giáo hội phong kiến.
Nếu triết học kinh viện thời Trung cổ đề cao các thực thể siêu nhiên với tƣ cách là tinh thần vũ trụ, thì chủ nghĩa duy lý cận đại giành lại vị trí đó cho lý tính của con ngƣời. Tiêu biểu là R.