ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng trên thế giới, với hơn 5.117 loài và dƣới loài, thuộc 1.823 chi, 360 họ của 8 ngành Thực vật bậc cao có mạch, cùng với một số taxon thuộc nhóm Rêu, Tảo và Nấm lớn, có công dụng làm thuốc (Danh lục cây thuốc Việt Nam, 2016). Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 80 dân số ở các nƣớc đang phát triển có nhu cầu sử dụng y học cổ truyền hoặc thuốc từ thảo dƣợc để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Trong vài thập niên gần đây, nhiều nƣớc đã và đang đẩy mạnh việc nghiên cứu, bào chế và sản xuất các dƣợc phẩm có nguồn gốc từ dƣợc liệu để hỗ trợ, phòng ngừa và điều trị nhiều loại bệnh.
Theo thống kê của ngành Y tế, hiện nay nhu cầu sử dụng dƣợc liệu ở Việt Nam vào khoảng 60.000 tấn dƣợc liệu/năm. Lĩnh vực sản xuất và kinh doanh dƣợc liệu cho sản xuất thuốc, thực phẩm chức năng đã và đang mang lại nguồn lợi lớn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, một phần lớn khối lƣợng dƣợc liệu hiện nay vẫn phải nhập khẩu, trong khi Việt Nam lại là quốc gia có tiềm năng về nguồn tài nguyên dƣợc liệu phong phú. Năm 2013, theo Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tƣớng Chính phủ “Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dƣợc liệu đến năm 2020 và định hƣớng đến năm 2030” và quyết định số 206/QĐ-BYT, ngày 22/1/2015 của Bộ trƣởng bộ Y tế về việc ban hành danh mục cây dƣợc liệu ƣu tiên phát triển giai đoạn 2015 – 2020, nh m bảo tồn và khai thác dƣợc liệu tự nhiên.
Việt Nam sẽ quy hoạch 8 vùng dƣợc liệu trọng điểm để lựa chọn sản xuất và khai thác hợp lý. Trong đó, triển khai sản xuất 28 loài dƣợc liệu bản địa phục vụ cho sản xuất thì Tục Đoạn là một trong các loài cây dƣợc liệu đƣợc qui hoạch trồng ở các vùng núi cao và vùng núi trung bình có khí hậu Á nhiệt đới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Hiện nay, nhu cầu trong và ngoài nƣớc về Tục Đoạn rất lớn, việc khai thác những cây mọc hoang trong tự nhiên không đủ nhu cầu. Trong điều kiện tự nhiên cây Tục Đoạn sinh sản b ng hạt hoặc sinh dƣỡng (Đỗ Huy Bích, 2006).
Tuy nhiên, tốc độ đẻ nhánh từ cây mẹ trong điều kiện tự nhiên chậm. Mặt khác, theo dân gian do công dụng cây Tục Đoạn ở bộ phận rễ, khi khai thác trong tự nhiên ngƣời dân nhổ cả cây, đào rễ và do cây Tục Đoạn sống ở vùng núi cao, thời gian thu hoạch hạt vào mùa đông tháng 11,12 giá rét, nên thu hoạch hạt để nhân giống trong điều kiện tự nhiên gặp khó khăn (Đỗ Huy Bích, 2006; Xu li, 2002). Vì vậy, sử dụng phƣơng pháp nhân giống tiên tiến để tiến hành nhân nhanh cây Tục Đoạn và gây trồng tại những khu phân bố của chúng là hết sức cần thiết hiện nay. Nhân giống cây Tục Đoạn b ng phƣơng pháp in vitro giúp tạo ra số lƣợng lớn cây giống tốt trong thời gian ngắn, có thể quy hoạch thành các vùng sản xuất dƣợc liệu, nâng cao thu nhập cho ngƣời dân và tránh nguy cơ cạn kiệt ngoài tự nhiên.
Để chủ động nguồn cây giống và chọn lọc giống Tục Đoạn cần đƣợc tiến hành để nâng cao năng suất và chất lƣợng giống cho việc gây trồng Tục Đoạn góp phần cung cấp nguồn dƣợc liệu ổn định cho thị trƣờng chúng tôi thực hiện đề tài “Nhân giống cây Tục Đoạn (Dipsacus japonicus Miq) bằng phƣơng pháp nuôi cấy in vitro”. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Xây dựng đƣợc kỹ thuật nhân giống cây Tục Đoạn b ng phƣơng pháp nuôi cấy in vitro. Mục tiêu cụ thể: - Xác định đƣợc phƣơng pháp tạo mẫu sạch thích hợp; - Xác định đƣợc công thức môi trƣờng phù hợp để nhân nhanh chồi; - Xác định đƣợc công thức môi trƣờng phù hợp để tạo cây con hoàn chỉnh; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 - Xác định đƣợc thành phần giá thể và kỹ thuật chăm sóc cây mô giai đoạn vƣờn ƣơm. + Xác định đƣợc ảnh hƣởng của thời gian huấn luyện đến khả năng sống của cây mô; + Xác định đƣợc ảnh hƣởng của loại giá thể đến khả năng sống và sinh trƣởng của cây mô tại vƣờn ƣơm.
Đối tƣợng, vật liệu và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Loài Tục Đoạn (Dipsacus japonicus Miq) - Vật liệu nghiên cứu: Chồi và hạt Tục Đoạn do Trung tâm Nghiên cứu Giống cây trồng Đạo Đức – Hà Giang cung cấp. - Địa điểm nghiên cứu: Phòng thí nghiệm Viện Công nghệ sinh học Lâm nghiệp, Trƣờng Đại học lâm nghiệp. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp cơ sở khoa học về kỹ thuật nhân giống in vitro cây Tục Đoạn và các dẫn liệu khoa học về ảnh hƣởng của chất kích thích sinh trƣởng đến sự sinh trƣởng và phát triển của cây Tục Đoạn.
Việc nhân nhanh thành công cây Tục Đoạn b ng phƣơng pháp nuôi cấy in vitro góp phần vào công tác bảo tồn hữu hiệu loài cây quý này. Ý nghĩa thực tiễn Áp dụng quy trình kỹ thuật nhân giống in vitro cây Tục Đoạn có thể tạo ra số lƣợng lớn cây giống tốt phục vụ sản xuất cho các vùng chuyên canh cây dƣợc liệu đáp ứng mục tiêu bảo tồn và phát triển các loài cây dƣợc liệu quý này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về cây Tục Đoạn (D.
Đặc điểm sinh vật học, phân bố và giá trị kinh tế của cây Tục Đoạn (D. Đặc điểm sinh học Cây Tục Đoạn còn gọi là Sâm nam, Đầu vù, Rễ Thái, Sơn cân thái, Oa thài, có tên khoa học Dipsacus japonicus Miq, thuộc họ Tục Đoạn (Dipsacaceae). Tục là nối, đọan là đứt vì ngƣời xƣa cho r ng vị thuốc có tác dụng nối đƣợc gân xƣơng đã đứt. Theo đông y, Tục Đoạn có vị đắng cay, tính hơi ôn, có tác dụng bổ can ích thận, nối liền gân cốt, thông huyết mạch, cầm máu, giảm đau.
Chủ trị can thận hƣ, lƣng đau, chân yếu, gẫy xƣơng, bong gân, dọa sảy thai, an thai, chỉ huyết và chữa băng lậu đới hạ (Bùi Thị B ng, 2010; Đỗ Tất Lợi, 2004; Hoàng Văn Vinh, 2001). Tục Đoạn là cây thuốc quý ở Việt Nam. Hàng năm, ngƣời dân thƣờng xuyên khai thác loại dƣợc liệu này để cung cấp cho nhu cầu sử dụng trong nƣớc. Việc khai thác liên tục nhiều năm hoặc bị tàn phá do nạn cháy rừng, đốt nƣơng làm rẫy đã làm cho nguồn cây thuốc này mau cạn kiệt.
Tục Đoạn đã đƣợc đƣa vào Sách Đỏ Việt Nam để lƣu ý bảo vệ (Đỗ Huy Bích, 2006; Sách đỏ Việt Nam, 2007). Cây Tục Đoạn là một loài thực vật có hoa trong họ Tục đoạn. Loài này đƣợc Miq mô tả đầu tiên năm 1868, cây cao 1,5 – 2 m, thân có 6 cạnh, trên cạnh có một hàng gai thƣa, càng lên trên càng mau dần, gai quặp trở xuống, lá mọc đối, không có cuống, bẹ ôm lấy cành hoặc thân. Lá non có răng cƣa dài, phiến lá nhỏ, thuôn dài, đầu nhọn.
Gân lá cách, trên đƣờng gân của mặt dƣới có một hàng gai nhỏ cứng, càng lên đầu lá, càng mềm dần. Lá già có phiến lá xẻ sâu, răng cƣa mau hơn lá non, phiến lá xẻ cách từ 3 - 9 thuỳ, gân lá có gai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nhỏ nhƣ lá non. Cũng có lá nguyên, cụm hoa hình trứng hay hình cầu, cành mang hoa dài 10 - 20 cm, 6 cạnh có lông cứng, càng lên trên càng mau dần. Hoa màu trắng có lá bắc dài 1- 2 cm.
Quả bế có 4 cạnh, màu xám trắng còn đài sót lại, dài 5 - 6 mm (Danh mục cây thuốc Việt Nam, 2016; Đỗ Tất Lợi, 2004). Cây Tục Đoạn (Nguồn: Đỗ Tất Lợi, 2004) 1. Phân bố Chi Dipsacus gồm một số loài, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ấm hoặc cận nhiệt đới thuộc châu Âu, châu Á và Bắc Phi. Ở Việt Nam, chi này có 2 loài D.japonicus Miq và D.
asper Wallich ex Candolle, đều gọi chung là Tục Đoạn. Trên thế giới, cả 2 loài này đều thấy phân bố ở vùng Đông Á, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản và một phần ở Bắc Việt Nam (Đỗ Huy Bích, 2006; Đỗ Tất Lợi, 2004; Hoàng Văn Vinh, 2001; Van Dan Nguyen, 1999; Shizhen Li, 1990). Ở Việt Nam, Tục Đoạn chỉ thấy phân bố ở một số vùng núi cao, thuộc các tỉnh Lào Cai (Sa Pa, Bát Xát, Bắc Hà, Mƣờng Khƣơng, Than Uyên), Lai Châu (Sìn Hổ, Phong Thổ; Tủa Chùa) và Hà Giang (Đồng Văn, Mèo Vạc và Quản Bạ), nhiều nhất ở Sapa, Bình Lƣ (Lào Cai), Hà Giang, Tuyên Quang. Tục LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Đoạn bắt đầu đƣợc khai thác vào khoảng từ năm 1935.
Mùa thu hoạch vào các tháng 8 – 10. Đào lấy rễ già rửa sạch đất cát cắt bỏ phần trên cổ rễ và rễ con, phơi trong râm hay sấy nhẹ cho khô để làm dƣợc liệu (Đỗ Huy Bích, 2006; Đỗ Tất Lợi, 2004; Hoàng Văn Vinh, 2001). Cây Tục Đoạn phân bố ở độ cao từ 1350 đến 1600 m (Đỗ Tất Lợi, 2004; Hoàng Văn Vinh, 2001; Narayan Das Prajapati, 2003). Nhìn chung, cả 2 loài Tục Đoạn thuộc loại cây ƣa sáng, mọc rải rác, đôi khi tạo thành đám trên các nƣơng rẫy mới bỏ hoang, ở trảng cỏ hay ven rừng núi đá vôi.
Hàng năm, vào mùa đông phần trên mặt đất thƣờng tàn lụi. Cây sinh trƣởng tốt trong điều kiện khí hậu ẩm mát của vùng nhiệt đới núi cao; nhiệt độ trung bình năm là 13 - 15°C; lƣợng mƣa dao động từ 1600 đến trên 3000 mm/năm, độ ẩm không khí trung bình 85 (Đỗ Tất Lợi, 2004; Hoàng Văn Vinh, 2001; Narayan Das Prajapati, 2003). Tục Đoạn mọc trên những loại đất tơi xốp, dễ thoát nƣớc và có hàm lƣợng mùn tƣơng đối cao, mọc ở nơi đất chặt, lẫn trong các trảng cỏ, cây thƣờng sinh trƣởng kém, rễ củ nhỏ và nhiều xơ. Cây ra hoa quả hàng năm; quả có túm lông, nên thuận lợi cho việc phát tán nhờ gió.
Cây con mọc từ hạt có thể thấy vào cuối mùa xuân hay đầu mùa hè (Đỗ Huy Bích, 2006). Ở Trung Quốc, Tục Đoạn chủ yếu mọc ở vùng Tứ Xuyên, Vân Nam, Tây Tạng. Cây ra hoa vào tháng 8 - 9, có quả tháng 9 - 10 (Hoàng Văn Vinh, 2001). Thành phần hoá học Tục Đoạn chƣa đƣợc nghiên cứu sâu về thành phần hóa học.
Kết quả nghiên cứu còn chƣa thống nhất.