Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quyền có nơi ở hợp pháp là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại Điều 22 Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, trước sức ép của quá trình đô thị hóa nhanh chóng, sự gia tăng dân số cơ học tại các đô thị lớn đã khiến giá trị bất động sản tăng cao vượt quá khả năng chi trả của đại bộ phận người lao động có thu nhập thấp. Nhóm đối tượng này thường phải trích một phần lớn tiền lương để trang trải chỗ ở hoặc phải sinh sống trong những khu nhà trọ chật chội, điều kiện vệ sinh kém, không đảm bảo an toàn và thiếu thốn hạ tầng xã hội.

Trước bối cảnh Quốc hội thông qua Luật Nhà ở năm 2023 (thay thế Luật Nhà ở năm 2014) và Chính phủ đang đẩy mạnh thực hiện Đề án "Đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030" theo Quyết định số 338/QĐ-TTg, việc nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành và đánh giá thực tiễn thực thi chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Đề tài khóa luận "Pháp luật về nhà ở dành cho người có thu nhập thấp và thực tiễn thực thi" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Ngọc Anh, chuyên ngành Luật Đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Xuân Trọng.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Xây dựng khái niệm, đặc điểm và làm rõ vai trò của nhà ở dành cho người có thu nhập thấp;
  2. Xây dựng khái niệm, cơ cấu và làm rõ cơ sở lý luận, sự cần thiết điều chỉnh của pháp luật về nhà ở cho người có thu nhập thấp;
  3. Khái quát, phân tích kinh nghiệm pháp luật về nhà ở cho người thu nhập thấp tại một số quốc gia trên thế giới;
  4. Phân tích thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quỹ đất, tiêu chuẩn thiết kế, lựa chọn chủ đầu tư, chính sách ưu đãi, điều kiện đưa vào giao dịch, cơ chế xác định giá, điều kiện thụ hưởng chính sách, hỗ trợ vay vốn và quản lý sử dụng nhà ở xã hội;
  5. Đánh giá khách quan kết quả đạt được cùng những tồn tại, bất cập trong thực tiễn thực thi pháp luật về nhà ở cho người thu nhập thấp tại Việt Nam;
  6. Đề xuất định hướng và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách nhà ở xã hội trong thời gian tới.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chế định pháp luật về nhà ở cho người có thu nhập thấp (với tư cách là một bộ phận của chế định pháp luật về nhà ở xã hội) và thực tiễn thực thi các quy định này.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung chủ yếu vào các quy phạm thuộc Luật Nhà ở năm 2014, các nghị định hướng dẫn thi hành (đặc biệt là Nghị định số 100/2015/NĐ-CP và Nghị định số 49/2021/NĐ-CP), đối chiếu có chọn lọc với Luật Nhà ở năm 2023 và các văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan (pháp luật đất đai, đầu tư, đấu thầu, thuế, kinh doanh bất động sản).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống các khái niệm pháp lý, lý thuyết về an sinh xã hội, chính sách tài khóa vĩ mô cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam và quốc tế:

  • Hệ thống văn bản pháp lý: Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Nhà ở năm 2005, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Nhà ở năm 2023, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Nghị định số 71/2001/NĐ-CP, Nghị định số 100/2015/NĐ-CP, Nghị định số 49/2021/NĐ-CP, Nghị định số 99/2015/NĐ-CP, Quyết định số 2161/QĐ-TTg, Quyết định số 338/QĐ-TTg, Quyết định số 486/QĐ-TTg, cùng các thông tư và công văn chuyên ngành (như Công văn số 199/BXD-QLN của Bộ Xây dựng).
  • Tổng quan nghiên cứu kế thừa: Kế thừa kết quả nghiên cứu từ các công trình tiêu biểu như sách chuyên khảo "Pháp luật về nhà ở xã hội" (2021) do TS. Trần Vang Phủ chủ biên; sách "Pháp luật về nhà ở xã hội ở Việt Nam hiện nay, những vấn đề lí luận và thực tiễn" (2023) của TS. Nguyễn Thành Luân; luận văn Thạc sĩ của Dương Thanh Hải (2017), Trịnh Thị Quế (2019); các bài báo khoa học của Ngô Gia Hoàng (2021), TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung (2018), Nguyễn Thị Thanh Thảo (2019), Phạm Yến Nhi (2022).
  • Phương pháp nghiên cứu: Tác giả kết hợp phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu mô hình chính sách của Singapore, Hàn Quốc, Áo, Malaysia, Đức, Trung Quốc, Ma-rốc), phương pháp thống kê, tổng hợp và đánh giá thực tiễn dữ liệu kinh tế - xã hội.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê (Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2022, Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019), Bộ Xây dựng, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, cùng các báo cáo khảo sát thực tế tại các dự án nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về nhà ở cho người có thu nhập thấp

Chương này tập trung làm sáng tỏ các vấn đề mang tính nền tảng lý luận về nhà ở và chế định pháp luật điều chỉnh phân khúc nhà ở dành cho người thu nhập thấp:

  1. Khái niệm và đặc điểm:

    • Dưới góc độ pháp lý, theo khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014, nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân.
    • Theo pháp luật Việt Nam (khoản 5 Điều 3 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP, sửa đổi bởi Nghị định số 49/2021/NĐ-CP), người thu nhập thấp là người làm việc tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hoặc lao động tự do tại khu vực đô thị có mức thu nhập không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định.
    • Nhà ở cho người thu nhập thấp mang ba đặc điểm cơ bản: có giá cả phải chăng phù hợp với khả năng chi trả của nhóm yếu thế; phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu do Nhà nước quy định nhằm đảm bảo an toàn, đồng bộ; nhận được sự hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp từ Nhà nước về tài chính, đất đai, quy hoạch (được gọi chung trong hệ thống pháp luật là Nhà ở xã hội - NOXH).
  2. Vai trò kinh tế - xã hội:

    • Bảo đảm chính sách an sinh xã hội, giảm bất bình đẳng giàu nghèo, hiện thực hóa quyền tiếp cận chỗ ở hợp pháp;
    • Kích cầu đầu tư công và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vĩ mô thông qua phát triển các ngành vật liệu xây dựng, thị trường lao động và gia tăng đóng góp vào GDP;
    • Bình ổn và lành mạnh hóa thị trường bất động sản, gia tăng nguồn cung thực chất, giảm hiện tượng đầu cơ và sốt giá ảo.
  3. Kinh nghiệm quốc tế: Chương 1 tổng hợp, phân tích mô hình chính sách phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp tại một số quốc gia:

Quốc gia / Vùng lãnh thổ Mô hình quản lý & tổ chức Cơ chế tài chính & huy động vốn Tiêu chí đối tượng & quản lý giao dịch
Singapore Tổng Cục phát triển nhà ở (HDB) quản lý thống nhất từ quy hoạch, thu hồi đất, xây dựng đến phân phối; chiếm 83% tỷ lệ sở hữu nhà ở công. Quỹ Tiết kiệm Trung ương (CPF) bắt buộc (NSDLD đóng 14%, NLD đóng 20%); cho vay tới 90% giá trị căn hộ với lãi suất tối thiểu 2,5%/năm, kỳ hạn tới 25 năm. Công dân đủ 21 tuổi có gia đình, người độc thân từ 35 tuổi trở lên; mỗi hộ không nhận trợ cấp mua quá 02 lần; nhà ở xã hội cho thuê chiếm 6% quỹ nhà.
Hàn Quốc Tổng công ty Nhà ở và Đất đai (LH) trực tiếp đầu tư hoặc chỉ định thầu; phát triển khoảng 100.000 căn hộ cho thuê/năm. Quỹ Nhà ở và Đô thị quốc gia huy động 70% vốn từ Trái phiếu nhà ở quốc gia (loại 1 và 2) và 30% từ tiết kiệm dân cư; trước đây dùng Quỹ xổ số (tối đa 70% doanh thu). Phân loại dân cư thành 10 nhóm theo thu nhập và khả năng chi trả để áp dụng mức hỗ trợ, diện tích sàn và hình thức thuê/mua tương ứng.
Cộng hòa Áo (Thành phố Viên) Chính quyền thành phố hợp tác cùng các Hiệp hội nhà ở có lợi nhuận hạn chế (LHPA); ngân sách thành phố nhận 450 triệu Euro/năm. Trợ cấp không hoàn lại khoảng 30% tổng chi phí xây dựng từ ngân sách; ưu đãi cao hơn cho các công trình xanh, thân thiện môi trường. Tiêu chuẩn thu nhập mở rộng cho 75% dân số (bao gồm cả tầng lớp trung lưu); cư trú tại Viên tối thiểu 2 năm; tiền đặt cọc thuê không quá 12,5% tổng chi phí đầu tư.
Malaysia Chính phủ điều tiết thông qua quỹ tiết kiệm hưu trí và chương trình nhà ở thu nhập thấp. Quỹ Tiết kiệm người lao động (EPF) chia làm 2 phần: tài sản lâu dài (70%) và tài sản linh hoạt (30% cho phép rút mua nhà); lãi suất gửi 2,5%/năm, vay mua nhà 6,59%/năm. Áp dụng mức đóng góp bắt buộc từ 6,5-13% đối với người sử dụng lao động và 5,5-11% đối với người lao động tùy độ tuổi, mức lương.
Cộng hòa Liên bang Đức Vận hành qua mô hình Ngân hàng tiết kiệm xây dựng (Bausparkassen), chiếm 35,3% thị phần tín dụng thế chấp. Mô hình tín dụng 2 giai đoạn khép kín: Giai đoạn tích lũy gửi tiết kiệm lãi suất thấp (tối thiểu 1,5 - 2 năm, đạt 40-50% giá trị vay) và Giai đoạn giải ngân vay ưu đãi cố định. Thành viên ký hợp đồng tích lũy với quỹ, tài sản thế chấp chính là bất động sản hình thành từ vốn vay.
Trung Quốc & Ma-rốc Can thiệp bằng hạn mức tài chính và khống chế cơ cấu giá thành xây dựng. Ma-rốc quy định giá bán cho đối tượng chính sách phải ngang bằng với chi phí cấu thành nên công trình. Trung Quốc yêu cầu 3 điều kiện: thuộc diện thu nhập thấp, diện tích nhà ở bình quân dưới 7m2/người, tài khoản ngân hàng dưới 90.000 Nhân dân tệ.

Chương 2: Pháp luật Việt Nam về nhà ở cho người có thu nhập thấp và thực tiễn thực thi

Chương 2 trình bày chi tiết thực trạng các quy phạm pháp luật thực định và đánh giá bức tranh thực thi trong thực tế:

1. Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam

  • Quá trình phát triển: Chuyển từ cơ chế bao cấp nhà ở thuộc sở hữu nhà nước (1960-1970), sang công nhận quyền sở hữu nhà ở tư nhân (Pháp lệnh Nhà ở 1991), ban hành chính sách ưu đãi đầu tư nhà ở tại Nghị định số 71/2001/NĐ-CP và chính thức luật hóa khái niệm "Nhà ở xã hội" tại Luật Nhà ở năm 2005, tiếp tục kế thừa, hoàn thiện tại Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Nhà ở năm 2023.
  • Quy định về quỹ đất phát triển:
    • UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm bố trí quỹ đất trong quy hoạch xây dựng đô thị, nông thôn, khu công nghiệp (Điều 56 Luật Nhà ở năm 2014).
    • Điều 5 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định số 49/2021/NĐ-CP) bắt buộc các dự án nhà ở thương mại, khu đô thị có quy mô từ 2 ha trở lên (tại đô thị loại đặc biệt và loại I) hoặc từ 5 ha trở lên (tại đô thị loại II và loại III) phải dành 20% tổng diện tích đất ở đã hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật để xây dựng NOXH. Dự án dưới quy mô này thực hiện nộp tiền sử dụng đất cho toàn bộ diện tích.
    • Quy định dành quỹ đất và thiết chế công đoàn xây dựng nhà ở phục vụ công nhân tại các khu công nghiệp theo Điều 6 Nghị định số 49/2021/NĐ-CP.
  • Quy chuẩn kỹ thuật và diện tích: Nhà chung cư NOXH phải thiết kế khép kín, diện tích sử dụng từ 25 m² đến 70 m²; dự án được phép tăng mật độ xây dựng hoặc hệ số sử dụng đất tối đa 1,5 lần; cho phép điều chỉnh tỷ lệ căn hộ trên 70 m² nhưng không vượt quá 10% tổng số căn hộ. Nhà liền kề thấp tầng có diện tích không quá 70 m², hệ số sử dụng đất không quá 2,0 lần (Điều 55 Luật Nhà ở năm 2014).
  • Lựa chọn chủ đầu tư: Áp dụng hình thức đấu thầu (nếu có từ 2 nhà đầu tư trở lên) hoặc chỉ định thầu (nếu có 1 nhà đầu tư) đối với đất do Nhà nước giao/cho thuê; giao trực tiếp chủ đầu tư dự án thương mại thực hiện trên quỹ đất 20%; hoặc chấp thuận cho doanh nghiệp, hợp tác xã có quyền sử dụng đất hợp pháp thực hiện dự án (Điều 57 Luật Nhà ở năm 2014).
  • Điều kiện giao dịch và kinh doanh:
    • NOXH hình thành trong tương lai: Phải xây dựng xong phần móng (hoặc mặt bằng sàn tầng thấp nhất đối với công nghệ Top-down) và có văn bản thông báo đủ điều kiện bán của Sở Xây dựng. Đáng chú ý, theo Công văn số 199/BXD-QLN của Bộ Xây dựng, chủ đầu tư NOXH không bắt buộc phải thực hiện bảo lãnh ngân hàng như dự án nhà ở thương mại.
    • NOXH có sẵn: Hoàn thành hạ tầng kỹ thuật, xã hội, giải chấp ngân hàng và không có tranh chấp, kê biên (Điều 63, 118 Luật Nhà ở năm 2014).
  • Cơ chế xác định giá: Điều 21 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP quy định giá bán bảo đảm thu hồi vốn, lãi vay và lợi nhuận định mức không vượt quá 10% tổng chi phí đầu tư; giá cho thuê và thuê mua bảo đảm lợi nhuận định mức không quá 15%; thuê mua thanh toán trước lần đầu 20%, thời hạn thu hồi vốn tối thiểu 5 năm; thuê nhà ở có thời hạn thu hồi vốn tối thiểu 15 năm.
  • Xét duyệt đối tượng thụ hưởng: Người thu nhập thấp phải đáp ứng 3 điều kiện: (1) Thu nhập không thuộc diện nộp thuế thu nhập cá nhân thường xuyên; (2) Có đăng ký thường trú hoặc tạm trú từ 1 năm trở lên tại địa phương; (3) Chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình hoặc diện tích bình quân dưới mức tối thiểu. Nghị định số 49/2021/NĐ-CP đã bãi bỏ cơ chế chấm điểm phức tạp trước đây, chuyển sang hình thức bốc thăm công khai khi số lượng hồ sơ hợp lệ vượt quá số căn hộ mở bán.
  • Hỗ trợ vay vốn và quy chế sử dụng: Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay tối đa 80% giá trị hợp đồng mua/thuê mua NOXH (hoặc 70% giá trị dự toán cải tạo sửa chữa, tối đa không quá 500 triệu đồng) với thời hạn tối đa 25 năm; mức lãi suất ưu đãi áp dụng đến hết ngày 31/12/2024 là 4,8%/năm theo Quyết định số 486/QĐ-TTg. Thời hạn cấm chuyển nhượng lại NOXH theo cơ chế thị trường tối thiểu là 05 năm kể từ ngày trả hết tiền (Điều 62 Luật Nhà ở năm 2014). Thời gian bảo hành chung cư tối thiểu 60 tháng, nhà riêng lẻ tối thiểu 24 tháng.

2. Kết quả thực tế và dữ liệu thực thi

  • Giai đoạn đến năm 2020: Cả nước có 1.040 dự án NOXH cho người thu nhập thấp và công nhân (507 dự án độc lập diện tích 1.375 ha; 533 dự án trên quỹ đất 20% diện tích 1.983 ha). Tuy nhiên, mới chỉ hoàn thành 248 dự án với khoảng 103.500 căn (hơn 5,1 triệu m² sàn), chỉ đạt 50% mục tiêu đề ra tại Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia.
  • Đánh giá chất lượng đời sống: Kết quả khảo sát năm 2019 đối với 352 cư dân tại 3 khu NOXH tại Hà Nội (Tây Mỗ, Hưng Thịnh, Rice City Linh Đàm) ghi nhận 61,5% đánh giá chất lượng sống "tốt hơn" và 26,8% đánh giá "tốt hơn nhiều" so với nơi ở cũ.
  • Áp lực đô thị hóa và cung - cầu: Điều tra dân số năm 2019 cho thấy cả nước có 6,4 triệu người di cư (chiếm 7,3% dân số); tại các đô thị đặc biệt, tỷ lệ di cư lên tới gần 200 người/1.000 dân. Trong vòng 8 năm (2015-2023), giá chung cư tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh tăng lần lượt 56% và 82%, trong khi thu nhập khu vực thành thị chỉ tăng 39%. Tỷ lệ công nhân KCN có nhu cầu bức thiết về nhà ở chiếm từ 50% (miền Bắc) đến 65,8% (miền Nam). Dự báo nhu cầu NOXH toàn quốc giai đoạn 2021-2030 lên tới 2,4 triệu căn (riêng TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2025-2030 cần khoảng 240.000 căn).
  • Triển khai Đề án 1 triệu căn hộ (giai đoạn 2021-2030): Tính đến tháng 2/2024, cả nước đã quy hoạch 1.249 khu đất với quy mô 8.390 ha làm NOXH (tăng thêm 5.031 ha so với năm 2020). Riêng năm 2023, có 44 dự án NOXH hoàn thành với quy mô 36.262 căn. Một số địa phương bố trí quỹ đất lớn gồm Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh (608 ha), Long An (577 ha), Hải Phòng (471 ha), Hà Nội (412 ha); ngược lại, nhiều tỉnh vẫn chưa quy hoạch quỹ đất NOXH như Ninh Bình, Lai Châu, Nghệ An, Ninh Thuận, Đồng Tháp.

Chương 3: Định hướng, một số kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp

Trên cơ sở phân tích bất cập, tác giả đề xuất 5 nhóm định hướng và giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện quy định pháp luật về quỹ đất: Quy định rõ trách nhiệm giải phóng mặt bằng sạch của địa phương trước khi bàn giao cho chủ đầu tư; xử lý linh hoạt cơ chế quỹ đất 20% để tránh tình trạng phân lô manh mún, cho phép quy đổi nghĩa vụ bằng tiền hoặc hoán đổi quỹ đất tập trung tại khu vực phù hợp quy hoạch hạ tầng xã hội.
  2. Hoàn thiện quy định về tiêu chí và xét duyệt đối tượng: Rà soát, cụ thể hóa khái niệm "thu nhập không chịu thuế thường xuyên", nâng mức trần điều kiện thu nhập xét duyệt để phù hợp với mức giảm trừ gia cảnh và trượt giá; tiếp tục duy trì cơ chế bốc thăm minh bạch kết hợp hậu kiểm đa ngành để ngăn chặn việc trục lợi chính sách.
  3. Đa dạng hóa nguồn vốn phát triển: Nghiên cứu thí điểm mô hình quỹ tiết kiệm nhà ở bắt buộc (tương tự CPF của Singapore hoặc EPF của Malaysia) hoặc mô hình Ngân hàng tiết kiệm xây dựng (như Bausparkassen của Đức); phát hành trái phiếu công trình nhà ở xã hội nhằm giảm phụ thuộc vào vốn ngân sách nhà nước.
  4. Bổ sung ưu đãi khuyến khích giải pháp giảm giá thành: Xây dựng cơ chế miễn giảm thuế, hỗ trợ chi phí công nghệ cho các chủ đầu tư ứng dụng giải pháp kỹ thuật mới, vật liệu xanh, công nghệ module hóa giúp rút ngắn tiến độ thi công và hạ giá thành xây dựng căn hộ.
  5. Nâng cao hiệu quả thực thi và quản lý vận hành: Cắt giảm thủ tục hành chính trong phê duyệt dự án; tăng cường kiểm tra, thanh tra định kỳ, hậu kiểm để phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi mua bán suất ngoại giao, đầu cơ, chuyển nhượng trái phép trong thời hạn 05 năm.

Kết quả và đóng góp

  • Tổng hợp số liệu thực chứng: Hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về nhà ở xã hội tại Việt Nam qua các mốc dữ liệu: 248 dự án hoàn thành đến năm 2020 (đạt 50% kế hoạch); 1.249 khu đất với quy mô 8.390 ha được quy hoạch đến tháng 2/2024; và 44 dự án với 36.262 căn hoàn thành trong năm 2023.
  • Làm rõ các điểm nghẽn pháp lý: Khóa luận chỉ rõ những mâu thuẫn giữa quy định không bắt buộc bảo lãnh ngân hàng đối với NOXH (theo Công văn số 199/BXD-QLN) với việc bảo vệ quyền lợi người mua nhà hình thành trong tương lai; chỉ ra bất cập trong việc áp dụng cứng nhắc tỷ lệ quỹ đất 20% và bất cập trong việc xác định điều kiện thu nhập dựa trên mức thuế TNCN khi chưa tính toán đầy đủ chi phí sinh hoạt đô thị.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận cập nhật các văn bản pháp lý mới nhất tại thời điểm nghiên cứu (Nghị định số 49/2021/NĐ-CP, Quyết định số 486/QĐ-TTg năm 2023, tiếp cận Luật Nhà ở năm 2023) và cung cấp phân tích so sánh liên ngành sâu sắc về các công cụ tài chính quốc tế (trái phiếu, quỹ tiết kiệm, ngân hàng tiết kiệm xây dựng) để kiến nghị giải pháp phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời gian và nguồn lực của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, nghiên cứu chủ yếu tập trung đánh giá quy phạm Luật Nhà ở năm 2014 và văn bản hướng dẫn; việc đối chiếu với Luật Nhà ở năm 2023 mới dừng lại ở mức độ so sánh định hướng do luật chưa có hiệu lực toàn diện tại thời điểm khảo sát.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động thực thi khi Luật Nhà ở năm 2023, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 đồng thời đi vào cuộc sống; đi sâu khảo sát định lượng cơ chế vận hành của các định chế tài chính nhà ở phi ngân sách tại các địa phương trọng điểm.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Đất đai, Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Quản lý Đô thị và Bất động sản khi thực hiện các đề tài liên quan đến nhà ở xã hội và quyền an sinh xã hội. Các nội dung có giá trị tra cứu cao bao gồm:

  • Bảng tổng hợp kinh nghiệm lập pháp và mô hình tài chính nhà ở xã hội của Singapore, Hàn Quốc, Áo, Malaysia, Đức;
  • Phân tích chi tiết các điều kiện pháp lý về quỹ đất 20%, quy trình bốc thăm xét duyệt hồ sơ, cơ cấu tính định mức lợi nhuận (10% đối với bán, 15% đối với cho thuê/thuê mua);
  • Cơ sở dữ liệu thống kê về nhu cầu nhà ở của công nhân, người di cư và tiến độ quy hoạch quỹ đất NOXH tại các tỉnh, thành phố.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm người thu nhập thấp được pháp luật Việt Nam xác định dựa trên những tiêu chí nào?
Theo khoản 5 Điều 3 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định số 49/2021/NĐ-CP), người thu nhập thấp là người làm việc tại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hoặc lao động tự do tại khu vực đô thị, có mức thu nhập không phải đóng thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân.

2. Quy định dành quỹ đất 20% xây dựng NOXH áp dụng cho những dự án nào?
Theo Điều 5 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định số 49/2021/NĐ-CP), nghĩa vụ dành 20% tổng diện tích đất ở để xây dựng NOXH áp dụng đối với các dự án nhà ở thương mại, khu đô thị có quy mô từ 2 ha trở lên tại các đô thị loại đặc biệt và loại I, hoặc từ 5 ha trở lên tại các đô thị loại II và loại III. Dự án dưới quy mô này nộp tiền sử dụng đất cho toàn bộ diện tích theo quy định.

3. Phương thức lựa chọn đối tượng mua, thuê mua NOXH thay đổi thế nào khi số lượng hồ sơ vượt quá số lượng căn hộ?
Nghị định số 49/2021/NĐ-CP đã bãi bỏ phương pháp chấm điểm từng tiêu chí trước đây. Trường hợp tổng số hồ sơ hợp lệ nhiều hơn số căn hộ công bố, việc lựa chọn thực hiện hoàn toàn thông qua hình thức bốc thăm công khai dưới sự giám sát của đại diện Sở Xây dựng địa phương (ngoại trừ các đối tượng ưu tiên như người có công, người khuyết tật được bố trí thẳng theo tỷ lệ quy định).

4. Sau bao lâu người mua nhà ở xã hội mới được phép chuyển nhượng lại theo cơ chế thị trường?
Theo khoản 4 và khoản 5 Điều 62 Luật Nhà ở năm 2014, bên mua/thuê mua NOXH chỉ được phép bán lại nhà ở theo cơ chế thị trường sau thời hạn tối thiểu là 05 năm, kể từ thời điểm đã thanh toán hết tiền mua/thuê mua và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu, đồng thời phải nộp tiền sử dụng đất và các khoản thuế theo quy định. Trong thời hạn 5 năm đầu, nếu có nhu cầu bán chỉ được bán lại cho đơn vị quản lý NOXH hoặc đối tượng đủ điều kiện mua NOXH với mức giá khống chế.

5. Gói tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội hỗ trợ người mua NOXH với mức vay và lãi suất như thế nào?
Người mua, thuê mua NOXH được vay tối đa 80% giá trị hợp đồng trong thời hạn tối đa 25 năm. Theo Quyết định số 486/QĐ-TTg ngày 10/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ, mức lãi suất cho vay ưu đãi áp dụng đối với các khoản vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội đến hết ngày 31/12/2024 là 4,8%/năm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Anh đã phân tích toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về nhà ở dành cho người có thu nhập thấp tại Việt Nam. Công trình làm nổi bật những đóng góp của chính sách nhà ở xã hội trong việc bảo đảm an sinh xã hội, đồng thời chỉ rõ các điểm nghẽn về quỹ đất, cơ chế tài chính và thủ tục xét duyệt đối tượng. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học hữu ích cho việc triển khai Luật Nhà ở năm 2023 và Đề án 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội trong giai đoạn phát triển mới.