Chương 1: Tổng quan chung về thẩm định tài chính dự án đầu tư xây dựng nhà ở dành cho người thu nhập thấp của NHTM. Chương 2: Thực trạng thẩm định tài chính dự án đầu tư xây dựng nhà ở dành cho người thu nhập thấp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Thăng Long. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư xây dựng nhà ở dành cho người thu nhập thấp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Thăng Long. Do giới hạn về trình độ, kinh nghiệm và thời gian tìm hiểu thực tế, vì vậy bài viết của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót.
Em rất mong nhận đựợc sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến và chỉ bảo tận tình của các thầy cô để bài viết thêm hoàn thiện. Em xin chân thành cảm ơn! 3 CHƢƠNG I TỔNG QUAN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG NHÀ Ở DÀNH CHO NGƢỜI THU NHẬP THẤP CỦA NHTM 1.1 Dự án đầu tƣ xây dựng nhà ở dành cho ngƣời thu nhập thấp 1.1 Tổng quan về Dự án đầu tư xây dựng nhà ở dành cho người thu nhập thấp a, Phân biệt nhà ở xã hội và nhà ở dành cho người thu nhập thấp Nhà ở xã hội là một loại nhà cung cấp cho những người không có thu nhập, hoặc có nhưng không đáng kể. Họ là những người không thể nào và không bao giờ tự mình kiếm được một chỗ ở. Những người này thường là người vô gia cư, người già đơn thân, người tật nguyền, người đau yếu không nơi nương tựa, những người sau khi mãn hạn tù nhưng không còn sức lao động.
Loại nhà này trong nhiều trường hợp được gọi là nhà từ thiện, các loại nhà này đa phần là của nhà nước, ngoài ra còn có các hiệp hội nhà ở, các tổ chức từ thiện tham gia từng phần để duy trì cuộc sống của những người sống trong nhà xã hội. Tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà người đăng ký ở nhà xã hội có người có thể được miễn phí hoàn toàn hoặc cho thuê với giá thấp. Phần tiền thuê này thường được các tổ chức từ thiện, tổ chức phi chính phủ, các mạnh thường quân chi trả qua các quỹ mà không chi trả trực tiếp cho người sử dụng vì sợ họ tiêu phung phí. Đặc điểm chính của loại nhà này là người sử dụng không có bất cứ quyền sở hữu, không được chuyển nhượng, không thừa kế mà chỉ có quyền sử dụng có thời hạn trong 10 - 15 năm.
Những người sống trong nhà xã hội phải cam kết pháp lý, hết thời hạn sử dụng nếu chủ sở hữu cần lấy lại để đưa vào khai thác như xây các công trình mới thì phải chấp hành, không kiện cáo. Khi đó tùy tình hình mà nhà nước sẽ bố trí họ vào sống trong các khu nhà ở xã hội khác. Cần khẳng định nhà ở cho người thu nhập thấp là một loại sản phẩm hàng hóa không phải làm từ thiện mà là để bán. Đối tượng mua là người có thu nhập thấp có thể từ lương, tiền làm công, nhưng do số tiền kiếm được ít, chỉ đủ trang trải cuộc 4 sống và tích lũy chút ít nhưng không thể nào mua được nhà ở nếu không có sự hỗ trợ nào đó từ nhiều phía.
Loại nhà ở cho người thu nhập thấp thường có giá rẻ hơn các loại nhà khác lý do: Thứ nhất, loại nhà này hoàn toàn không tệ về chất lượng như nhiều người nghĩ. Nó vẫn đảm bảo độ bền vững với những tiêu chuẩn xây dựng cơ bản, chỉ có điều nó không sử dụng các thiết bị đắt tiền, chẳng hạn như những nhà thấp tầng (dưới 9 tầng), không có thang máy, không sử dụng các thiết bị vệ sinh cao cấp, không dùng những họa tiết trang trí cầu kỳ, không có các dịch vụ tiện ích xa xỉ như hồ bơi, sân tennis. Thứ hai, nó có diện tích nhỏ hơn so với các căn hộ cao cấp, trong nhiều trường hợp vài ba căn hộ sử dụng chung một nhà bếp và nhà vệ sinh. Thứ ba, nó được Chính phủ giảm hoặc miễn một số các loại thuế cho chủ đầu tư như thuế đất.
Ngoài ra Chính phủ còn hỗ trợ tài chính thông qua việc can thiệp để được vay ngân hàng với lãi suất thấp, hỗ trợ một phần tiền đền bù giải tỏa (nếu có), hỗ trợ một phần tài chính thông qua việc can thiệp được giảm giá vật liệu xây dựng. Thứ tư, người mua được giảm giá căn hộ có khi chỉ bằng giá thành căn hộ và trả dần trong 15 - 20 năm không tính lãi hoặc lãi suất rất thấp. Để nhà đầu tư không bị thiệt thòi, chính phủ thường ưu tiên cho họ một số công trình khác có lợi nhuận cao hơn để bù đắp vào. Người mua có thể có quyền sở hữu theo luật định.
b, Dự án đầu tư xây dựng nhà ở dành cho người thu nhập thấp Là Dự án đầu tư xây dựng các khu nhà ở dành cho những người có thu nhập thấp. Các dự án đầu tư xây dựng nhà ở dành cho người thu nhập thấp được nhà nước hỗ trợ như sau: Được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong phạm vị dự án; Được áp dụng thuế suất ưu đãi thuế giá trị gia tăng ở mức cao nhất (thuế suất 0 ; 5 Được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm tiếp theo và được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong suốt thời gian hoạt động; Được hỗ trợ tín dụng đầu tư từ các nguồn: - Vay vốn tín dụng ưu đãi hoặc bù lãi suất theo quy định; - Vay từ Quỹ phát triển nhà ở của địa phương và các nguồn vốn vay ưu đãi khác (nếu có ; - Được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ lãi vay (tùy theo khả năng ngân sách của từng địa phương. Được cung cấp miễn phí các thiết kế mẫu, thiết kế điển hình về nhà ở cũng như các tiến bộ khoa học kỹ thuật về thi công, xây lắp nhằm giảm giá thành xây dựng công trình; được áp dụng hình thức tự thực hiện nếu có đủ năng lực theo quy định của pháp luật hoặc chỉ định thầu đối với các hợp đồng tư vấn, thi công xây lắp và mua sắm thiết bị; Được Nhà nước hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào dự án (giao thông, cấp điện, cấp thoát nước).000 tỷ của nhà nước đối với nhà ở dành cho người thu nhập thấp Căn cứ Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu. Ngân hàng nhà nước đã ban hành thông tư 11/2013/TT-NHNN ngày ngày 15 tháng 05 năm 2013 của Ngân hàng nhà nước về việc Quy định về cho vay hỗ trợ nhà ở và thông tư số 32/2014/TT-NHNN ngày 18 tháng 11 năm 2014 Bổ sung, sửa đổi của Thông tư 11, quy định một số nội dung của gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng như sau: Đối tượng vay vốn (sau đây gọi là khách hàng) bao gồm: Cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và đối tượng thu nhập thấp vay vốn để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội và thuê, mua nhà ở thương mại có diện tích nhỏ hơn 70 m2, giá bán dưới 15.000 đồng/m2; 6 Cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, công nhân, người lao động có thu nhập thấp nhưng khó khăn về nhà ở, khi mua nhà ở thương mại tại các dự án phát triển nhà ở, dự án đầu tư xây dựng khu đô thị trên địa bàn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt có tổng giá trị hợp đồng mua bán (kể cả nhà và đất không vượt quá 1.000 đồng; Doanh nghiệp là chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội, doanh nghiệp là chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại được chuyển đổi công năng sang dự án nhà ở xã hội do Bộ Xây dựng công bố trong từng thời kỳ (sau đây gọi là doanh nghiệp).
Mức lãi suất cho vay hỗ trợ nhà ở của ngân hàng đối với khách hàng được Ngân hàng Nhà nước công bố hàng năm và áp dụng cho các khoản vay có dư nợ trong năm. Định kỳ vào tháng 12 hàng năm, Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố lại mức lãi suất áp dụng cho năm tiếp theo, bằng khoảng 50% lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng trên thị trường nhưng không vượt quá 6 /năm. Tối đa 15 năm đối với khách hàng mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; thuê, mua nhà ở thương mại tính từ thời điểm khách hàng được giải ngân lần đầu tiên, nhưng không vượt quá thời điểm 01 tháng 06 năm 2031. Tối đa 5 năm đối với khách hàng doanh nghiệp, khách hàng hộ gia đình, cá nhân đầu tư cải tạo hoặc xây dựng mới nhà ở xã hội tính từ thời điểm khách hàng được giải ngân lần đầu tiên, nhưng không vượt quá thời điểm 01 tháng 06 năm 2021.2 Sự cần thiết của Dự án đầu tư xây dựng nhà ở dành cho người thu nhập thấp Nhà ở luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi tầng lớp dân cư, là một trong những nhu cầu không thể thiếu đối với mỗi người dân, mỗi gia đình, là lĩnh vực sản xuất vật chất quan trọng góp phần tăng trưởng kinh tế và giải quyết vấn đề xã hội của đất nước.
Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay thì nhu cầu về nhà ở xã hội là rất lớn, đặc biệt là nhà ở cho người có thu nhập thấp. Chất lượng nhà ở cho người có thu nhập thấp còn là thước đo sự phát triển hệ thống an sinh xã hội và nâng cao chất lượng sống, quy định vẻ đẹp kiến trúc, bộ mặt cảnh quan của một địa phương và toàn thể quốc gia, đồng thời khẳng định trình độ quản lý xã hội của Nhà nước và chính quyền địa phương các cấp.