MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Nguyên tắc phân hóa TNHS là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự Việt Nam. Nó phản ánh nội dung của PLHS, là một trong những thuộc tính, đại lượng tạo cơ sở cho việc xây dựng các qui phạm PLHS và cấu thành hệ thống hình phạt.
Để quyết định một hình phạt đúng với từng trường hợp phạm tội và từng người phạm tội cụ thể; đảm bảo tính công bằng, hợp lý, thì cần phải có những quy định mang tính pháp định về phân hóa TNHS, tạo cơ sé pháp lý cho việc các thể hóa hình phạt chính xác, đầy đủ. Những quy dinh của PLHS, những biện pháp xử lý cụ thể được quyết định với từng trường hợp phạm tội và từng người phạm tội, đều quán triệt và thực hiện đầy đủ những yêu cầu của tư tưởng, quan điểm tiến bộ về phân hóa TNHS, là sự thể hiện của tính pháp chế, tính công bằng và tính ưu việt trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Những quy định như vậy tạo ra một dư luận, thái độ đồng tình ủng hộ, đồng thời góp phần định hướng cho những hành vi của con người theo chiều hướng tích cực, hạn chế và dần dần loại bỏ tình hình phạm tội. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương củng cố để hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung cũng như PLHS nói riêng, nâng cao chất lượng của pháp luật, làm cho pháp luật trở thành những quy định mang tính chuẩn mực, khuôn mẫu, thể hiện được sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật bằng những bản án, quyết định của Tòa án đúng pháp luật và phù hợp với hoàn cảnh, nhân thân của từng người phạm tội.
Vì thế phân hóa TNHS có ý nghĩa vô cùng quan trọng không những đối với hoạt động lập pháp mà phân hóa TNHS còn có ý nghĩa đối với cả hoạt động áp dụng PLHS và thi hành án hình sự. Đó Trang 4 là những lý đo lập luận cho việc lựa chọn đề tài luận văn Thạc sỹ luật học của chúng tôi là “Nguyén tắc phân hóa TNHS và sự thể hiện của nó trong Bộ luật hình sự năm 1999”. Tình hình nghiên cứu. Cùng với các nguyên tắc khác của Luật hình sự Việt Nam, nguyên tắc phân hóa TNHS với ý nghĩa là một trong những nguyên tắc co ban của Luật hình sự Việt Nam, ngày càng được quan tâm nhiều hơn, thể hiện qua các sách báo chuyên ngành PLHS.
Song, công bằng mà nói nguyên tắc phân hóa TNHS trong Luật hình sự Việt Nam chưa thực sự được chú ý đúng mức. Một số bài viết chuyên khảo về vấn đề phân hóa TNHS mdi chi đề cập 6 phạm vi hẹp các biểu hiện, các khía cạnh một cách riêng lẻ của nguyên tắc này mà chưa làm nổi bật được phân hóa TNHS như là một nguyên tắc cơ bản. Mặt khác, từ sự chưa hoàn thiện về lý luận, chưa đầy đủ, chính xác từ những quy định trong lập pháp mà thực tiễn áp dụng PLHS khi quyết định hình phạt để đảm bảo mục đích cá thể hóa hình phạt cũng như gặp những vướng mắc nhất định. Từ đó có thể dẫn tới những hình phạt hoặc là nặng hơn, hoặc là nhẹ hơn so với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Do vậy, bản án tuyên không có sức thuyết phục, mục đích giáo dục, cải tạo và phòng ngừa không đạt được. Vì thế, việc nghiên cứu là làm sáng tở những vấn dé co bản của nguyên tắc phân hóa TNHS trong Luật hình sự Việt Nam và sự thể hiện của nó trong BLHS năm 1999 cùng những đòi hỏi của nguyên tắc này đối với PLHS là vô cùng quan trọng. Mục đích, nhiệm vu và phạm vi nghiên cứu. Mục dich của việc nghiên cứu dé tài này trên cơ sở tiếp cận tong thé, phân tích nguyên tắc phân hóa TNHS và sự thể hiện của nó trong BLHS năm Trang 5 1999.
Nhưng do tính chất phúc tạp nhiều mặt của nguyên tắc này với phạm vi của một luận văn Thạc sỹ chúng tôi không thể xem xét hết tất cả các khía cạnh cũng như mức độ thể hiện của nguyên tắc phân hóa TNHS một cách chi tiết nhất, mà chỉ làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về nguyên tắc phân hóa TNHS như: khái niệm, nội dung và mối quan hệ giữa nguyên tắc phân hóa TNHS với những nguyên tắc khác của Luật hình sự Việt Nam; đồng thời thấy được sự cụ thể hóa chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta về đường lối xử lý có phân biệt đối với từng trường hợp phạm tội và từng người phạm tội, trên cơ sở những quy định về phân hóa TNHS trong BLHS năm 1999. Phuong pháp luận và phương pháp nghiên cúu. Cơ sé phương pháp luận của luận án là lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật nói chung và PLHS nói riêng. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử.
Luận án được hoàn thành trên co sé nỗ lực của cá nhân, sự tham khảo có chọn lọc những bài viết của các tác giả đã được đăng trên các sách báo và tạp chí chuyên ngành. Vận dụng các phương pháp trên ở những góc độ khác nhau trên cơ sở toàn diện, khách quan về nội dung và sự thể hiện của nguyên tắc phân hóa TNHS trong BLHS Việt nam năm 1999. Bố cục của luận án. Với mục đích, nội dung và phương pháp nghiên cứu nêu trên đã quy định bố cục của luận án như sau: Phần mỏ đầu; phần nội dung gồm 2 chương, 7 mục va 16 tiểu mục; phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Trang 6 CHUONG I MOT SO VAN DE CHUNG VE NGUYEN TAC PHAN HOA TRACH NHIEM HINH SU I. KHÁI NIỆM VA NỘI DUNG CUA NGUYEN TAC PHAN HÓA TRACH NHIEM HINH SU Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Tội phạm cũng là một hiện tượng xã hội, nó nảy sinh, tồn tại trong xã hội, trên thực tế được biểu hiện đa dang và phức tạp. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng các hành vi phạm tội lại có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau và do những người có các đặc điểm nhân thân khác nhau thực hiện.
Chính từ những đặc điểm khác nhau đó, đòi hỏi Nhà nước phải có thái độ xử lý khác nhau đối với từng loại tội phạm và người phạm tội để đảm bảo quyết định hình phạt và có một bản án đúng người, đúng tội. Dap ứng những đòi hỏi đó chính là việc phân hóa TNHS. Khái niệm và nội dung của nguyên tắc phân hóa TNHS. Thuật ngữ “nguyên tắc” có nguồn gốc từ tiếng La-tinh: Principium (nguyên lý) và có ý nghĩa là tư tưởng đầu tiên, tư tưởng chỉ đạo.
Theo cách hiểu của triết học, nguyên tắc đó là “. những tư tưởng xuất phát điểm có tính chủ đạo, tính định hướng là quy tắc cơ bản của hành động”(¡). Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “nguyên tắc” được hiểu là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”. (2) Trên cơ sỏ đó, nguyên tắc của pháp luật cũng được hiểu theo cách phổ biến nhất đó là những tư tưởng xuất phát điểm có tính chủ đạo, định hướng, là quy tắc cơ bản của pháp luật.
Luật hình sự là một ngành luật trong hệ thống Trang 7 pháp luật Việt Nam, nó được xây dựng và áp dụng dựa trên những nguyên tắc nhất định, đó là những tư tưởng chỉ đạo và các định hướng, đường lối cho toàn bộ quá trình lập pháp và áp dụng PLHS như trong diéu tra, truy tỐ, xét xu. Những nguyên tắc đó phan ánh nhu cầu khách quan và các đời hỏi chủ quan của quá trình đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong từng giai đoạn cụ thể. Những nguyên tắc đó luôn tuân thủ các nguyên tắc chung của pháp luật XHCN, mà nguyên tắc của pháp luật vừa có tính chủ quan (là nguyên tc co ban của hành động) vừa có tính khách quan (là những tu tưởng). BLHS nước ta không có quy định riêng về các nguyên tắc của luật hình sự trong một điều cụ thể, nhưng căn cứ vào nội dung xuyên suốt Bộ luật, có thể xác nhận các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam gồm những nguyên tắc như: Nguyên tắc pháp chế XHCN, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc trách nhiệm cá nhân, nguyên tắc dân chủ XHCN, nguyên tắc có lỗi, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt, nguyên tắc nhân đạo XHCN (3).
Mỗi nguyên tắc nói trên đều có nội dung và đòi hỏi khác nhau trong quá trình lập pháp và áp dụng PLHS, vì đó là những tư tưởng định hướng cho nhiệm vụ và chức năng cụ thể của luật hình sự và thực tiễn áp dụng luật hình sự. Trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật, để thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ và chức năng của mình, luật hình sự phải dựa vào tất cả các nguyên tắc đó mà không thể xem nhẹ hoặc coi trọng hay bỏ qua một nguyên tắc nào. Các nguyên tắc đó có quan hệ hữu cơ với nhau, sự thể hiện nguyên tắc này có ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc khác và ngược lại. Các nguyên tắc của luật hình sự là các nguyên tắc chung, xuyên suốt toàn bộ các chế định của luật hình sự, trong từng chế định của mình đều có sự hiện diện dù ít hay nhiều nội dung của các nguyên tắc của luật hình sự.
Đối với Trang 8 vấn đề xác định TNHS để áp dụng hình phạt phù hợp với hành vi và nhân thân người phạm tội cần phải có quy định cụ thể trên cơ sở có sự phân hóa TNHS. Như vậy, để làm cho bản án hoặc quyết định của Tòa án có sức thuyết phục đối với chính người bị kết án, túc là làm cho hình phạt được tuyên phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phù hợp vdi nhân thân cũng như hoàn cảnh phạm tội của họ, Doi hỏi các quy định trong BLHS phải được phân hóa 6 mức cao nhất, không chỉ là phân hóa ở việc quy định hình phạt hay các chế tài cụ thể, mà yêu cầu sự có mặt của nguyên tắc này xuyên suốt BLHS (từ việc thể hiện những quy định chung nhất, khái quát nhất, mang tính định hướng cho việc xét xu tối việc quy định cụ thể từng tội phạm, từng hình phạt làm cơ sở cho việc cá thể hóa hình phạt).