Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế - xã hội, các quan hệ giao lưu dân sự, kinh tế ngày càng phong phú và phức tạp, dẫn đến số lượng tranh chấp dân sự gia tăng tỷ lệ thuận với quy mô dân số và nền kinh tế. Cùng với việc Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án, số lượng vụ việc Tòa án phải thụ lý, giải quyết ngày càng tăng cao với tính chất đa dạng, nhiều vụ án phải xét xử qua nhiều cấp và kéo dài. Yêu cầu đặt ra trong giải quyết tranh chấp là vừa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính thân thiện, dựa trên nguyên tắc đồng thuận, tôn trọng sự tự nguyện của các bên. Hoạt động này không chỉ giúp hàn gắn mâu thuẫn, nâng cao ý thức pháp luật của công dân mà còn giảm thiểu chi phí, thời gian và công sức cho cả đương sự lẫn cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng nguyên tắc hòa giải tại Tòa án nhân dân (TAND) các cấp thời gian qua cho thấy vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, vướng mắc và sai sót tố tụng. Do đó, tác giả Vũ Hoàng Linh Giang đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Tố tụng Dân sự với đề tài "Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự" dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Công Bình tại Trường Đại học Luật Hà Nội.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về nguyên tắc hòa giải, đánh giá thực tiễn thực hiện tại các TAND, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả hòa giải các vụ việc dân sự.

Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự (TTDS) như khái niệm, ý nghĩa, cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và mối quan hệ giữa nguyên tắc này với các nguyên tắc cơ bản khác của TTDS.
  2. Phân tích làm rõ nội dung của nguyên tắc hòa giải theo quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành và đánh giá đúng thực trạng các quy định đó.
  3. Đánh giá thực tiễn thực hiện nguyên tắc hòa giải tại các TAND ở Việt Nam, phát hiện các vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng, đồng thời tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc hòa giải trong TTDS, các quy định pháp luật TTDS Việt Nam về hòa giải và thực tiễn áp dụng nguyên tắc này tại hệ thống TAND.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các vấn đề lý luận cơ bản, các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành (chủ yếu là BLTTDS năm 2015) và thực tiễn xét xử, giải quyết vụ việc dân sự tại các TAND trong những năm gần đây (giai đoạn 2016–2023).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận biện chứng duy vật Mác - Lênin, cùng các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp. Các văn bản chỉ đạo nền tảng được tác giả trích dẫn gồm:

  • Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
  • Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/06/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn áp dụng làm cơ sở đối chiếu trực tiếp:

  • Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (các Điều 10, 29, 180, 205, 206, 207, 208, 209, 210, 212, 227, 246, 259, 361, 397).
  • Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 (các Điều 117, 123, 131).
  • Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Điều 54).
  • Chỉ thị số 04/2017/CT-CA ngày 03/10/2017 của Chánh án TANDTC về tăng cường công tác hòa giải tại TAND.
  • Các văn bản giải đáp nghiệp vụ của TANDTC: Văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/04/2017 và Văn bản số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018.
  • Các văn bản pháp luật lịch sử: Lệnh thời vua Lê Thánh Tông (năm Hồng Đức thứ 7 - 1476), Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946, Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/05/1950, Luật Tổ chức TAND năm 1960, Thông tư số 25-TATC, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).
  • Các điều ước và kinh nghiệm quốc tế: Công ước New York năm 1958, Công ước La Hay năm 1978, Hiệp định EVFTA, Chỉ thị số 2008/52/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu, cùng quy định pháp luật của Nhật Bản, Trung Quốc và các nước châu Âu lục địa.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả vận dụng gồm: phương pháp phân tích, chứng minh, tổng hợp, diễn dịch, hệ thống hóa, so sánh - đối chiếu pháp luật và phương pháp thống kê xã hội học pháp lý từ các báo cáo xét xử thực tiễn.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận gồm các báo cáo tổng kết công tác hàng năm của TANDTC (giai đoạn 2018–2022), Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2016–2020 của TANDTC, Báo cáo công tác 6 tháng đầu năm 2023 của TAND hai cấp TP. Hà Nội, cùng các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp dân sự thực tế tại TAND quận T (Hà Nội), TAND huyện T (tỉnh B) và TAND huyện X (tỉnh Y).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự

Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng và phân tích chi tiết quy định của BLTTDS năm 2015 về nguyên tắc hòa giải.

1. Về mặt lý luận:

  • Khái niệm và cấu thành: Hòa giải trong TTDS chứa đựng 3 yếu tố cốt lõi: (1) Phải có tranh chấp giữa các bên; (2) Có sự thống nhất ý chí để giải quyết tranh chấp thông qua việc mỗi bên nhượng bộ lẫn nhau; (3) Có sự tham gia của bên thứ ba trung lập (Tòa án) để hỗ trợ, hướng dẫn và công nhận kết quả hòa giải thành. Tác giả đưa ra định nghĩa: Nguyên tắc hòa giải trong TTDS là nguyên tắc cơ bản và đặc trưng, theo đó Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật.
  • Ý nghĩa: Tác giả phân tích ý nghĩa ở 3 phương diện:
    • Đối với Tòa án: Giảm thiểu thời gian, chi phí xét xử, giảm gánh nặng thu thập chứng cứ, hạn chế tình trạng án bị kháng cáo, kháng nghị, hủy hoặc sửa; tạo thuận lợi cho giai đoạn thi hành án.
    • Đối với đương sự: Bảo đảm quyền tự định đoạt, nâng cao nhận thức pháp luật thông qua sự giải thích của Thẩm phán, tiết kiệm án phí và giữ gìn các mối quan hệ xã hội.
    • Đối với kinh tế - xã hội: Giảm lãng phí ngân sách và nguồn lực xã hội, ngăn ngừa xung đột phát sinh, giữ vững trật tự và củng cố niềm tin vào cơ quan tư pháp.
  • Cơ sở xác lập nguyên tắc: Bắt nguồn từ bản chất bình đẳng, tự thỏa thuận của các quan hệ dân sự; quyền tự định đoạt của đương sự; trách nhiệm của Nhà nước trong việc đa dạng hóa phương thức giải quyết tranh chấp; đường lối cải cách tư pháp của Đảng; truyền thống văn hóa đạo đức "dĩ hòa vi quý" từ thời phong kiến (điển hình là lệnh năm 1476 thời Hồng Đức); và xu thế hội nhập tư pháp quốc tế.
  • Mối quan hệ với các nguyên tắc khác: Nguyên tắc hòa giải có quan hệ hữu cơ với: (1) Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự; (2) Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; (3) Nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan và người tiến hành tố tụng.

2. Về nội dung quy định pháp luật hiện hành:

  • Chủ thể có trách nhiệm hòa giải: Tòa án là chủ thể tiến hành theo Điều 10 BLTTDS năm 2015. Đối với vụ án dân sự, đây là thủ tục bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (Khoản 1 Điều 205). Đối với việc dân sự, về nguyên tắc không tiến hành hòa giải vì không có tranh chấp quyền - nghĩa vụ, ngoại trừ trường hợp đặc thù là việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn (Khoản 2 Điều 29 và Khoản 2 Điều 397 BLTTDS năm 2015, Điều 54 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014).
  • Trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi của Tòa án: Tòa án tạo điều kiện cho các bên tiếp cận chứng cứ, tổ chức phiên hòa giải trực tiếp hoặc trực tuyến (như mô hình tại TAND huyện Mê Linh, Hà Nội), và tạm ngừng phiên tòa nếu các bên yêu cầu để tự hòa giải theo Điểm đ Khoản 1 Điều 259.
  • Phạm vi hòa giải (phương pháp loại trừ tại Khoản 1 Điều 205):
    • Những vụ án không được hòa giải (Điều 206): Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội (theo Điều 123, 131 BLDS 2015).
    • Những vụ án không tiến hành hòa giải được (Điều 207): Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà cố tình vắng mặt; đương sự không thể tham gia vì lý do chính đáng; đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn bị mất năng lực hành vi dân sự; một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.
    • Vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.
  • Thủ tục và trình tự: BLTTDS năm 2015 quy định hòa giải được lồng ghép trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ (Điều 210). Tác giả dẫn chứng Văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC để làm rõ: việc kiểm tra chứng cứ và hòa giải là hai nội dung độc lập; nếu hòa giải nhiều lần, lần tiếp theo chỉ kiểm tra khi có tài liệu chứng cứ mới. Hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận (Điều 212).

Chương 2: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự Việt Nam và kiến nghị

Chương 2 đánh giá thực trạng áp dụng quy định hòa giải trong hệ thống Tòa án, nêu bật những kết quả đạt được, phân tích các sai sót thực tế qua hồ sơ vụ án cụ thể và đề xuất định hướng khắc phục.

1. Những ưu điểm và kết quả đạt được:

  • Công tác hòa giải được lãnh đạo TANDTC chỉ đạo sát sao thông qua Chỉ thị số 04/2017/CT-CA, đặt ra chỉ tiêu tỷ lệ hòa giải thành sơ thẩm hàng năm đạt từ 60% trở lên và 100% quyết định công nhận thỏa thuận không bị kháng nghị giám đốc thẩm.
  • Tỷ lệ hòa giải thành trung bình toàn ngành luôn duy trì ở mức trên 50% tổng số vụ việc đã giải quyết. Nhiều Tòa án địa phương đạt tỷ lệ cao như TAND hai cấp tỉnh Bến Tre, Nam Định, Quảng Trị, Yên Bái.
  • Năm 2022, toàn ngành thụ lý 567.521 vụ việc, giải quyết được 504.681 vụ việc (đạt tỷ lệ 88,9%). Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan của Tòa án là 0,9% (đáp ứng chỉ tiêu Quốc hội giao là không quá 1,5%).
  • Công tác hòa giải đoàn tụ thành trong các vụ việc công nhận thuận tình ly hôn đạt kết quả tích cực tại 4 địa phương lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An và TP. Hồ Chí Minh.

2. Nhược điểm, hạn chế và sai sót trong thực tiễn: Tác giả đi sâu phân tích 3 nhóm sai sót tố tụng điển hình qua các vụ việc có thật:

  • Thứ nhất, Tòa án triệu tập không đầy đủ đương sự: Thường xảy ra trong các tranh chấp hợp đồng tín dụng xử lý tài sản bảo đảm. Ví dụ: Tại TAND quận T (Hà Nội), trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tín dụng 26 tỷ đồng giữa Ngân hàng X và Công ty TNHH KDNT Việt Nam, Tòa án đã không triệu tập vợ chồng ông Đinh Văn Đức và bà Nguyễn Thị Lan (bên thứ ba thế chấp quyền sử dụng đất) tham gia các buổi hòa giải mà vẫn ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 07/2018/QĐST-KDTM ngày 23/08/2018, dẫn đến việc xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi của bên thế chấp.
  • Thứ hai, Tòa án ra quyết định công nhận thỏa thuận khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của đương sự vắng mặt: Vi phạm Khoản 3 Điều 212 BLTTDS năm 2015. Ví dụ: Tại vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại TAND huyện T (tỉnh B), bà Lê Thị T vắng mặt tại phiên hòa giải ngày 01/08/2016. Dù biên bản hòa giải thành buộc vợ chồng bà T phải liên đới trả 350.000.000 đồng cho nguyên đơn nhưng Tòa án không gửi kết quả hòa giải và không lấy ý kiến bằng văn bản của bà T, sau đó vẫn ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 01/2016/QĐST-DSTC ngày 10/08/2016.
  • Thứ ba, Tòa án vi phạm thời hạn 07 ngày ra quyết định khi đương sự đã có đơn thay đổi ý kiến: Vi phạm Khoản 1 Điều 212 BLTTDS năm 2015. Ví dụ: Trong vụ án ly hôn tại TAND huyện X (tỉnh Y) thụ lý số 178/TLST-HNGĐ, phiên hòa giải thành lập ngày 19/11/2019. Đến ngày 24/11/2019 (trong thời hạn 7 ngày), nguyên đơn nộp đơn phản đối thỏa thuận và Tòa nhận ngày 25/11/2019, nhưng ngày 27/11/2019 TAND huyện X vẫn ban hành Quyết định số 12/2019/QĐST-HNGĐ công nhận thuận tình ly hôn.

3. Nguyên nhân của những hạn chế:

  • Về quy định pháp luật: Quy định về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại Điều 207 chưa phân định rõ giữa người có yêu cầu độc lập và người không có yêu cầu độc lập; BLTTDS năm 2015 chưa có cơ chế xử lý trường hợp trong thời hạn 7 ngày các bên muốn thay đổi nhưng là để đạt thỏa thuận mới thay vì từ chối thỏa thuận.
  • Về phía cán bộ Tòa án: Một số Thẩm phán còn hạn chế về kỹ năng điều hành hòa giải, thiếu tính kiên trì, hoặc chạy theo chỉ tiêu giải quyết nhanh vụ án dẫn đến vi phạm thủ tục.
  • Về phía đương sự: Nhận thức pháp luật hạn chế, thiếu thiện chí hợp tác hoặc có thái độ cố tình trốn tránh, gây cản trở phiên hòa giải.

4. Kiến nghị hoàn thiện và thực thi:

  • Nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật: Sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể về thủ tục xử lý khi đương sự thay đổi nội dung thỏa thuận trong thời hạn 7 ngày; hoàn thiện quy định về địa vị tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong hòa giải; đồng bộ hóa quy định hòa giải việc dân sự tại Điều 361 và Điều 397.
  • Nhóm kiến nghị về thực hiện: Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng hòa giải cho Thẩm phán; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (hòa giải trực tuyến); đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật để nâng cao nhận thức và thiện chí hòa giải của đương sự.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp toàn diện số liệu giải quyết các vụ án dân sự thông qua thủ tục hòa giải của ngành Tòa án qua các năm:

Năm Tổng số vụ việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm Số vụ hòa giải thành Tỷ lệ hòa giải thành (%)
2016 Không nêu tổng số 157.916 Không nêu
2017 Không nêu tổng số 173.958 Không nêu
2018 375.727 184.143 49,01%
2019 401.414 201.995 50,32%
2020 403.241 205.747 51,02%
2022 504.681 (trên 567.521 thụ lý) Chiếm tỷ lệ lớn Tỷ lệ giải quyết chung: 88,9%

Tại cấp địa phương, 6 tháng đầu năm 2023, TAND hai cấp TP. Hà Nội tiếp nhận 4.291 đơn khởi kiện/yêu cầu đủ điều kiện, đã giải quyết 3.525 đơn; trong đó hòa giải thành, đối thoại thành đạt 1.104 đơn (tỷ lệ 25,73% trên tổng số đơn tiếp nhận).

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, công trình đã:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, lịch sử lập pháp và kinh nghiệm quốc tế về nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự.
  • Phân tích rõ nét sự tương thích và điểm kế thừa của BLTTDS năm 2015 so với BLTTDS năm 2004, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và BLDS năm 2015.
  • Nhận diện chính xác 3 dạng sai sót tố tụng phổ biến của Thẩm phán trong quá trình lập biên bản và ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự thông qua việc mổ xẻ các hồ sơ vụ việc thực tế.
  • Đề xuất các giải pháp lập pháp và giải pháp thực thi thực tế nhằm nâng cao hiệu quả hòa giải tại Tòa án.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận chủ yếu tập trung vào thủ tục hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm các vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015. Tác giả chưa đi sâu phân tích toàn diện mối quan hệ giao thoa giữa hòa giải theo BLTTDS và mô hình hòa giải, đối thoại mới được ban hành theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài tố tụng, đánh giá tác động thực thi của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án đối với việc giảm tải án dân sự, đồng thời nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý cho thủ tục hòa giải trực tuyến (ODR) trên nền tảng chuyển đổi số của ngành Tòa án.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Luật Tố tụng Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, và Tư pháp học; cung cấp cấu trúc lý luận chuẩn mực và cách thức tiếp cận, bình luận văn bản quy phạm pháp luật.
  • Cán bộ Tòa án (Thẩm phán, Thư ký Tòa án): Phần phân tích 3 vụ việc sai sót thực tế (về thiếu đương sự, thiếu văn bản đồng ý của người vắng mặt, vi phạm thời hạn 7 ngày) tại Chương 2 là tài liệu tham khảo nghiệp vụ giúp nhận diện và phòng tránh các vi phạm thủ tục dẫn đến việc bản án/quyết định bị hủy qua thủ tục giám đốc thẩm.
  • Luật sư và người tham gia tố tụng: Hỗ trợ nắm vững quyền tự định đoạt và các căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo khóa luận, hoạt động hòa giải trong tố tụng dân sự cấu thành từ những yếu tố cơ bản nào?
Khóa luận chỉ rõ hòa giải trong TTDS gồm 3 yếu tố: (1) Phải có tranh chấp giữa hai bên; (2) Có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp thông qua việc mỗi bên nhượng bộ một phần; (3) Phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập (Tòa án) để hỗ trợ, hướng dẫn và công nhận sự thỏa thuận hợp pháp giữa các bên.

2. BLTTDS năm 2015 quy định những trường hợp vụ án dân sự nào không được hòa giải?
Căn cứ Điều 206 BLTTDS năm 2015, có 2 trường hợp không được hòa giải:

  • Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước (do tài sản thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý nên cá nhân không có quyền tự định đoạt thỏa thuận).
  • Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội (theo Điều 123 BLDS năm 2015).

3. Chỉ thị số 04/2017/CT-CA của Chánh án TANDTC đặt ra những chỉ tiêu thi đua nào cho công tác hòa giải?
Chỉ thị 04/2017/CT-CA đề ra chỉ tiêu: Phấn đấu tỷ lệ các vụ án dân sự được hòa giải thành mà Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết trong một năm đạt từ 60% trở lên; đồng thời phấn đấu 100% các quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, không có quyết định không thể thi hành án được.

4. Ba sai sót tố tụng phổ biến của Tòa án trong công tác hòa giải được tác giả chỉ ra là gì?

  • Triệu tập không đầy đủ đương sự/người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia hòa giải (như trường hợp bỏ sót bên thế chấp tài sản bảo đảm trong vụ án tại TAND quận T - Hà Nội).
  • Ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự mà không có sự đồng ý bằng văn bản của đương sự vắng mặt theo Khoản 3 Điều 212 BLTTDS (như vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất tại TAND huyện T - tỉnh B).
  • Vi phạm thời hạn 07 ngày ra quyết định công nhận thỏa thuận khi đương sự đã có đơn phản đối/thay đổi ý kiến hợp lệ trong thời hạn (như vụ án ly hôn tại TAND huyện X - tỉnh Y).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Vũ Hoàng Linh Giang là công trình nghiên cứu chuyên khảo có chất lượng học thuật tốt về nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự Việt Nam. Tác giả đã kết hợp chặt chẽ giữa việc phân tích các quy định của BLTTDS năm 2015 với dữ liệu thực tiễn xét xử giai đoạn 2016–2023, chỉ ra những bất cập lập pháp và sai sót nghiệp vụ thực tế của Thẩm phán. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, góp phần hoàn thiện thể chế tư pháp và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp dân sự theo đúng tinh thần cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước.