CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM 1. Khái niệm áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm 1. Khái niệm áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự Theo từ điển tiếng Việt, tranh tụng nghĩa là kiện tụng, chỉ sự kiện cáo lẫn nhau6. Xét về lịch sử ra đời, tranh tụng trong Tiếng Anh là “Adversarial” có nghĩa là đối kháng, đương đầu7.
Theo Hán - Việt tự điển thì tranh tụng được ghép từ hai từ “tranh luận” và “tố tụng”8. Như vậy, xét về mặt ngữ nghĩa, chúng ta có thể hiểu tranh tụng là hoạt động tranh luận trong quá trình tố tụng (thưa kiện) tại Tòa án. Tại Từ điển luật học thì tranh tụng được hiểu như sau: “Tranh tụng là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng, có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập”9. Dưới góc độ khoa học pháp lý, có nhiều quan điểm về khái niệm thuật ngữ tranh tụng.
Tuy nhiên, nhìn chung thì bản chất của tranh tụng là đi tìm sự thật khách quan của sự việc bị tranh chấp, kiện tụng thông qua sự hỏi đáp, biện luận, chứng minh của các chủ thể có liên quan mà trong đó, đương sự đóng vai trò quyết định. Như vậy, có thể hiểu tranh tụng là “một chuỗi các hoạt động lập luận, đối đáp của các chủ thể có liên quan trong vụ án với nhau về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo những trình tự, thủ tục quy định trong pháp luật tố tụng”. Để làm rõ hơn vấn đề, cần phải phân biệt tranh tụng với tranh luận và tố tụng. Chiếu theo từ điển tiếng Việt, tranh luận nghĩa là bàn cãi để tìm ra lẽ phải10.
6 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr. 7 Hoàng Văn Thành (2015), Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tr. 8 Đặng Quang Dũng (2021), “Bàn về vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, Số 04/2021, tr. 9 Bộ Tư Pháp – Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nhà xuất bản Tư pháp, tr.
10 Viện ngôn ngữ học (2003), tlđd (6), tr. 7 Tranh tụng là một quá trình liên tục kể từ khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện vụ án cho đến khi có phán quyết cuối cùng về việc giải quyết vụ án đó, là nguyên tắc cơ bản phải được tuân thủ trong mọi giai đoạn của hoạt động tố tụng. Trong khi đó, tranh luận chỉ là một giai đoạn tố tụng tại phiên tòa, nó là sự biểu hiện tập trung nhất của nguyên tắc tranh tụng11. Trong phần tranh luận, những người tham gia tố tụng chỉ tập trung vào việc trình bày lý lẽ để bảo vệ quyền lợi của mình, chứ không nhắc lại những tài liệu, sự kiện đã được xác minh, xem xét ở các giai đoạn tố tụng trước đó.
Hay nói cách khác dễ hiểu hơn đó là tranh tụng có nội hàm rộng hơn tranh luận, tranh tụng bao gồm tranh luận. Ngoài ra, cần phải phân biệt thêm giữa khái niệm tranh tụng và khái niệm tố tụng. Về cơ bản, hoạt động tố tụng được phân loại thành 2 mô hình: tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn12. Tuy nhiên, không thể xem tranh tụng là một loại hình tố tụng bởi lẽ tranh tụng là một yếu tố tồn tại khách quan, luôn hiện diện trong quá trình xét xử VADS dù việc xét xử đó tuân theo mô hình tố tụng nào, điểm khác biệt nằm ở chỗ tùy vào từng loại hình tố tụng mà mức độ hiện diện của yếu tố tranh tụng là khác nhau.
Như vậy, có thể xem tranh tụng là một yếu tố tồn tại bên trong tố tụng. Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh: "tố tụng" là việc thưa kiện (procès), "tố tụng pháp lý" là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tụng (code deprocédure)"13. Lê Gia, trong sách Tiếng nói nôm na cho rằng: "tố tụng" là vạch tội và đưa ra cửa công để phân giải phải trái do chữ "tố" là vạch tội; chữ "tụng" là thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái"14. Hiểu một cách đơn giản: "Tố tụng" là việc thưa kiện ở Tòa án.
TTDS là trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, các VADS tại Tòa án; trình tự, thủ tục thi hành án dân sự15. Trong TTDS, nguyên tắc tranh tụng được thực hiện xuyên suốt quá trình Tòa án giải quyết VADS, kể từ lúc Tòa án thụ lý đơn khởi kiện cho tới khi Tòa án ra quyết 11 Trần Lệnh Hà (2018), Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 12 “Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi”, https://tapchitoaan.vn/to-tung-tranh-tung-va-to-tung-xet-hoi, truy cập ngày 05/04/2023. 13 Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán Việt, Nhà xuất bản Trường Thi, Sài Gòn, tr.
14 Lê Gia (1999), Tiếng nói nôm na, Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 15 Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương (2013), “Pháp luật về tố tụng dân sự”, Đặc san tuyên truyền pháp luật, Số 04/2013, tr. 8 định, bản án giải quyết vụ án đó16. Như vậy, tác giả cho rằng, áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng trong TTDS có nghĩa là “áp dụng một hệ thống các biện pháp, cách thức, nguyên lý để đảm bảo cho các chủ thể có liên quan trong VADS có quyền được lập luận, đối đáp với nhau về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh trong VADS để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình kể từ lúc Tòa án thụ lý đơn khởi kiện VADS cho đến khi Tòa án ra quyết định, bản án giải quyết vụ việc đó theo những trình tự, thủ tục quy định trong pháp luật TTDS”.
Khái niệm áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng cho khái niệm “phiên tòa dân sự sơ thẩm” hay “phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS”. Căn cứ theo pháp luật TTDS hiện hành, việc xét xử VADS phải được tiến hành tuân theo nguyên tắc hai cấp xét xử (cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm). Phiên tòa dân sự sơ thẩm là một trong những hoạt động tố tụng của cấp xét xử sơ thẩm, cũng là cấp xét xử thứ nhất. Như vậy, có thể hiểu “phiên tòa dân sự sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng trong cấp xét xử đầu tiên nhằm giải quyết tất cả vấn đề liên quan trong VADS theo trình tự, thủ tục của pháp luật TTDS”.
Khác với phiên tòa dân sự phúc thẩm là một giai đoạn tố tụng trong cấp xét xử thứ hai nhằm nhằm khắc phục, sửa chữa những sai lầm có thể có trong những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm17. Quá trình giải quyết VADS ở cấp xét xử sơ thẩm sẽ bao gồm các thủ tục kể từ khi Tòa án thụ lý cho đến khi có quyết định, bản án giải quyết VADS, bao gồm cả giai đoạn xét xử tại phiên tòa sơ thẩm mà cụ thể tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, Tòa án sẽ tiến hành lần lượt các thủ tục như sau: Thủ tục bắt đầu phiên tòa, trong đó bao gồm quy định về: Khai mạc phiên tòa; Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt; Bảo đảm tính khách quan của người làm chứng. 16 Ủy ban thường vụ Quốc hội (2015), Báo cáo số 965/BC-UBTVQH13 ngày 23/10/2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội về dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi), tr. Đặng Quang Dũng (2021), tlđd (8), tr.
17 Lương Huy Hùng (2012), Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 9 Thủ tục hỏi tại phiên tòa, trong đó bao gồm quy định về: Hỏi đương sự về thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu và công nhận sự thỏa thuận của họ về giải quyết vụ án; Nghe đương sự trình bày về vụ án; Việc tiến hành hỏi tại phiên tòa. Thủ tục tranh luận tại phiên tòa, trong đó bao gồm quy định về: Những người tham gia tranh luận; Nội dung tranh luận; Căn cứ tranh luận; Trình tự tranh luận; Phát biểu của Kiểm sát viên; Trở lại việc hỏi. Ngoài ra còn có thủ tục nghị án, thủ tục tuyên án và cuối cùng là các quy định về biên bản phiên tòa cũng như bản án sơ thẩm.
Như vậy, áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm có nghĩa là “áp dụng một hệ thống các biện pháp, cách thức, nguyên lý để đảm bảo cho các chủ thể có liên quan trong VADS có quyền được lập luận, đối đáp với nhau về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh trong VADS để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình kể từ lúc Tòa bắt đầu phiên tòa sơ thẩm đối với VADS cho đến khi Tòa án ra quyết định, bản án giải quyết vụ việc đó theo những trình tự, thủ tục quy định trong pháp luật TTDS”. Phiên tòa sơ thẩm là hoạt động tố tụng của cấp xét xử thứ nhất, là phiên xử lần đầu hoặc là phiên xét xử lại theo bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng phiên tòa nhằm xem xét một cách toàn diện các yêu cầu của đương sự, có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết VADS. Do đó, TAND phải tiến hành phiên tòa một cách nghiêm túc thì việc xét xử mới bảo đảm dân chủ và quyết định của Tòa án mới được sự đồng tình của quần chúng nhân dân18. Việc áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm sẽ là cơ sở vô cùng quan trọng cho các bên liên quan trong VADS vận dụng hết khả năng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.