Chương 1 Đạo luật Giao dịch điện tử của Úc năm 1999 quy định rằng:“Bất kỳ giao dịch nào có bản chất là hợp đồng, thỏa thuận hay các giao dịch phi thương mại mại mà hợp pháp thì có thể được sử dụng phương thực điện tử để giao kết/thực hiện”. 16 Canada đã ban hành một Đạo luật mẫu có tên gọi Đạo luật Thương mại Điện tử Thống nhất (UECA) năm 1999, các tỉnh và vùng lãnh thổ của Canada sẽ dựa vào đạo luật mẫu này để ban hành các quy định về giao dịch điện tử riêng biệt. Tuy nhiên, tinh thần chung của những đạo luật địa phương này đều dựa theo nguyên tắc cơ bản “thông tin sẽ không bị từ chối hiệu lực pháp lý hoặc khả năng thực thi chỉ vì thông tin được thể hiện dưới dạng điện tử”. 17 được công nhận là tương đương với chữ ký viết tay và tất cả các Quốc gia Thành viên EU phải công nhận QES đã được phê duyệt theo eIDAS được sử dụng ở các nước là thành viên của khối liên minh này.
Đây là cách tiếp cận khá phổ biến và hiện nay đa số các quốc gia trên thế giới đều theo hướng tiếp cận này, ngoài các quốc gia là thành viên của EU như: Đức17, Pháp18, Bỉ19,. thì còn một số các quốc gia khác cũng tiếp cận chữ ký điện tử theo cách tiếp cận hai tầng: Trung Quốc 20, Singapore21, Argentina22, Nga23,. Phân loại chữ ký điện tử Cùng với sự phát triển không ngừng nghỉ của công nghệ và các tiến bộ khoa học kỹ thuật trên nhiều lĩnh vực khác nhau, các cách thể hiện của chữ ký điện tử cũng ngày càng trở nên đa dạng với nhiều thể loại khác nhau. Nhìn nhận các hoạt động thương mại điện tử đang diễn ra trên thế giới, ta có thể phân chia một số loại hình được xem như chữ ký điện tử như sau: 17 Luật pháp của Đức thừa nhận giá trị pháp lý của 3 loại chữ ký giống như eIDAS, tuy nhiên SES và AES bị hạn chế trong một số giao dịch yêu cầu chữ ký viết tay theo Điều 126 Bộ luật Dân sự Đức và quy định rằng chỉ có QES mới tương đương với chữ ký viết tay.
18 Chữ ký điện tử được quy định trong Điều 1366 và 1367 của Bộ luật Dân sự Pháp, có phân biệt 3 khái niệm SES, AES và QES, trong khi SES và AES có hiệu lực pháp lý giống nhau thì QES có giá trị tương đương với chữ ký viết tay. 19 Theo Bộ luật Dân sự của Bỉ, Bỉ hiện đối xử với SES và AES giống nhau so với QES (được coi là chữ ký viết tay). Tính hợp lệ và khả năng thực thi của SES và AES vẫn do tòa án quyết định và SES không thể bị tước bất kỳ hiệu lực pháp lý nào chỉ vì đặc tính điện tử của nó. 20 Luật Chữ ký điện tử của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 2015 đã thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử, không phân loại cụ thể như EU, tuy nhiên chỉ có một loại chữ ký có giống như chữ ký viết tay là chữ ký điện tử đáng tin cậy.
21 Đạo luật Giao dịch điện tử Singapore 2010 công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử và chữ ký điện tử có hai loại là chữ ký điện tử và chữ ký điện tử an toàn, trong đó chữ ký điện tử an toàn có giá trị như chữ ký viết tay. 22 Luật Chữ ký số Số 25,506 năm 2001, Sắc lệnh số 2628 năm 2022 và Quyết định hành chính số 6/2007 và số 927/2014 đã quy định hai loại chữ ký là chữ ký điện tử và chữ ký số. Định nghĩa về chữ ký điện tử gần như tương ứng với SES và chữ ký số thì tương tự khái niệm của QES. 23 Luật Chữ ký điện tử của Nga cũng phân biệt SES, AES và QES cũng như thiết lập các quy định khác nhau cho từng loại chữ ký.
SES và AES chỉ có thể được sử dụng trong các trường hợp cụ thể được cung cấp bởi pháp luật. Trong trường hợp luật pháp Nga không quy định về khả năng sử dụng SES hoặc AES, vẫn có ba khả năng: (i) QES phải được sử dụng, (ii) phải có thỏa thuận trước hợp lệ giữa các bên về việc sử dụng SES hoặc AES, hoặc (iii) ) các bên chấp nhận các quy tắc tuân thủ pháp luật về việc sử dụng SES và AES do nhà điều hành hệ thống chữ ký điện tử thông qua. 18 (i) Ký bằng cách kết thúc nội dung bằng tên: Đối với hình thức ký này, nội dung/thông điệp dữ liệu sẽ được kết thúc bởi tên, chức danh của người gửi. Việc nhập tên và địa chỉ ở cuối mỗi tài liệu điện tử có thể được sử dụng thông qua thư điện tử (e-mail), trong tài liệu Word, Excel hay HTML,.
(ii) Ký điện tử bằng bút điện tử: Chữ ký điện tử này được người dùng sử dụng các công cụ hỗ trợ kết nối với một chương trình cụ thể để thực hiện việc ký tên. Chẳng hạn như lúc nhận hàng từ bưu điện, bạn sẽ ký tên lên thiết bị của đơn vị vận chuyển, hay một số công cụ khác cho phép người ký nhập tên hoặc thực hiện thao tác ký chữ ký lên đó: Adobe, DocuSign,. Thường thì các chương trình/công cụ này thực hiện chủ yếu hai chức năng: nắm bắt chữ ký của người dùng (lưu trữ dữ liệu ký) và xác minh chữ ký (đối chiếu chữ ký sau mỗi lần sử dụng). (iii) Chữ ký scan (chữ ký quét): Khi sử dụng máy quét, chữ ký được chuyển đến một tệp mà được định dạng dưới dạng hình ảnh.
Có nghĩa là, hình ảnh của chữ ký lúc này được phát triển từ chữ ký truyền thống, được quét và chuyển đổi thành dữ liệu điện tử. (iv) Chữ ký sinh trắc học: Khi sử dụng loại chữ ký điện tử này, nó phụ thuộc phần lớn vào các đặc điểm vật lý cũng như đặc điểm sinh học của mỗi con người, bởi vì con người sinh ra không ai giống ai, do vậy việc mỗi cá nhân có một định khác khác nhau sẽ dẫn đến sự bảo mật riêng biệt đối với chữ ký điện tử. Một số loại hình chữ ký sinh trắc học phổ biến có thể kể đến: dấu vân tay, quét mắt người, mức độ và âm sắc của giọng nói, nhận dạng khuôn mặt. Các loại hình chữ ký này được ứng dụng mạnh mẽ trong ngành ngân hàng hoặc tài chính.
(v) Hình thức nhấp vào để ký (Click to sign): Loại chữ ký thường được thể hiện bằng cách chủ thể xác lập sự đồng ý đối với nội dung bằng cách nhấp vào nút “Tôi đồng ý” hoặc “ Tôi chấp nhận”. Các trường hợp tiêu biểu của loại hình này được thể hiện khi khách hàng truy cập vào một website và đóng ý với điều khoản của website đó, hoặc việc đồng ý các đơn hàng được đặt mua trên các nền tảng mua sắm trực tuyến. 19 (vi) Mã PIN (Personal Information Number): Mã PIN hoặc mật khẩu người dùng là yếu tố bảo mật của mỗi một cá nhân, do vậy trong các giao dịch chuyển tiền thì việc nhập mã PIN có nghĩa người đó đã đồng ý và xác nhận giao dịch đó hoặc để có truyền truy cập vào tài khoản ngân hàng khi rút tiền tại ATM thì việc nhập mã PIN cũng cho thấy người đó xác nhận sự đồng ý của mình đối với giao dịch. (vii) Chữ ký số: Như có phân tích ở phần trên cũng như hầu hết các quốc gia đều có những quy định về chữ ký số, đây là một loại hình chữ ký điện tử được tích hợp các công nghệ tiên tiến nhằm đảm bảo được tính an toàn, bảo mật và sử dụng những thuật toán, khóa, hàm, mã để có thể liên kết được chữ ký với thông điệp dữ liệu.
Đây là một loại chữ ký có độ bảo mật và sự đáng tin cậy cao nên thường các quốc gia đã và đang nỗ lực không ngừng để đầu tư và phát triển loại chữ ký này nhằm mục đích đảm bảo an toàn nhất cho các giao dịch thương mại điện tử. Chức năng của chữ ký điện tử Chữ ký điện tử được phát triển như một hệ thống độc lập để hỗ trợ tăng cường độ tin cậy và bảo mật của các giao dịch trực tuyến và hơn hết trong thương mại, nó giúp các bên dễ dàng hơn trong việc xác minh các bên ký kết hợp đồng. Có thể thấy được chữ ký điện tử và chữ ký tay truyền thống có những điểm tương đồng về chức năng tuy nhiên khi chữ ký điện tử bắt đầu phổ biến hơn thì số lượng chữ ký viết tay đã giảm đi rất nhiều. Lý do đến từ việc chữ ký tay bị hạn chế bởi một số thách thức như tài liệu giấy dễ dàng bị mất hoặc không gian lưu trữ tài liệu giấy bị hạn chế 24.
Sau đây là một số chức năng nổi bật của chữ ký điện tử nhằm chứng minh lý do tại sao nó càng ngày được sử dụng phổ biến. Thứ nhất, chức năng chứng cứ. Dù là chữ ký truyền thống hay chữ ký điện tử thì mục đích chính của chữ ký vẫn là cung cấp bằng chứng đáng tin cậy. Người ta dựa vào chữ ký trên tài liệu để xác nhận rằng một người hoặc nhiều người đã đồng ý đối với nội dung trong tài liệu đó.
Ngoài ra, việc sử dụng chữ ký điện tử đảm bảo rằng 24 Enas M. Qutieshat (2019), “The Use of Eleactronic Signature in Validation of Electronic Contracts from the Jordanian Perspective”, Jourbal of Law, Policy and Globalization, Vol.64 20 người gửi tài liệu biết được tài liệu điện tử đã đến tay người nhận hay chưa thông qua dấu thời gian hoặc công nghệ xác thực, do đó có thể giảm thiểu các trường hợp người nhận viện dẫn lý do không nhận được tài liệu hay không biết hành động của người gửi để miễn trừ trách nhiệm pháp lý của mình. Một tài liệu có chữ ký sẽ là bằng chứng hữu hình có giá trị và có hiệu lực pháp lý, ngoài ra dựa vào nội dung được ký, các bên phải tuân thủ các nghĩa vụ trong giao dịch. Thứ hai, chức năng đảm bảo toàn vẹn nội dung.
Một tài liệu gửi đi yêu cầu chữ ký điện tử thì tài liệu đó không thể bị thay đổi hoặc sửa đổi sau khi chúng được ký kết vì sau khi ký nó là một tổng thể hoàn chỉnh, không thể thay đổi. Thông qua dấu mốc thời gian ký, các bên sẽ nắm bắt được thời điểm ký và nếu có sự thay đổi nào sai lệch với thời điểm ký thì sẽ có thông báo. Điều này hạn chế được tình trạng giả mạo nội dung, hạn chế khả năng gian lận trong quá trình giao kết hợp đồng. Thứ ba, chức năng đảm bảo bí mật nội dung.