đặt vấn đề về tài trợ vốn lưu động cho Công ty để thi công các công trình. Tháng 9/1999 Công ty bắt đầu có quan hệ tín dụng với Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT. Tại thời điểm vay vốn, Công ty đang có quan hệ với một số TCTD khác tại các tỉnh trên địa bàn miền Trung. Tổng dư nợ vay các TCTD này là 37.705 triệu đồng, trong đó: ngắn hạn: 21.271 triệu đồng, trung dài hạn: 16.434 triệu đồng, và không có nợ quá hạn.
Thông tin về tình hình tài chính của Công ty mà ngân hàng có được tại thời điểm vay vốn như sau: Báo cáo tài chính năm 1998: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Bảng cân đối kế toán năm 1998 của Công ty A TÀI SẢN Số đầu kỳ Số cuối kỳ I. TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ ĐTNH 42. Khoản phải thu 24. Hàng tồn kho 13.089 - Tr/đó: Chi phí SXKD dỡ dang 11.
Tài sản lưu động khác 2. TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ ĐTDH 29. Tài sản cố định 29. Chi phí XDCB dở dang 110.000 Tổng cộng tài sản 71.
NỢ PHẢI TRẢ 59. Nợ ngắn hạn 38.221 - Vay ngắn hạn 19.417 - Phải trả người bán 626.974 - Phải trả, phải nộp khác 9. Nợ dài hạn 20. NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU 12.001 Tổng cộng nguồn vốn 71.989 Nguồn: Báo cáo tài chính năm 1998 của Công ty A – Hồ sơ tín dụng của Agribank LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Báo cáo kết quả HĐKD năm 1998 của Công ty A Doanh thu 68.397 Các khoản giảm trừ 2.925 Doanh thu thuần 65.472 Giá vốn hàng bán 60.134 Lợi tức gộp 4.338 Chi phí bán hàng Chi phí quản lý doanh nghiệp 4.190 Lợi tức thuần từ hoạt động kinh doanh 570.148 Lợi tức hoạt động tài chính 4.239 Lợi tức bất thường 39.444 Tổng lợi tức trước thuế 614.831 Thuế vốn và thuế lợi tức 397.224 Lợi tức sau thuế 216.607 Nguồn: Báo cáo tài chính năm 1998 của Công ty A – Hồ sơ tín dụng Agribank Căn cứ Báo cáo tài chính năm 1998 của Công ty, ngân hàng đã tiến hành thẩm định, công ty được đánh giá là có tình hình tài chính và sản xuất kinh doanh ổn định, đảm bảo khả năng trả nợ.
Sau khi tiến hành thẩm định ngân hàng đã duyệt cho vay vốn lưu động để trả tiền vật tư là: 500 triệu đồng. Từ tháng 9/1999 đến 31/12/1999 ngân hàng đã phê duyệt 5 món vay với tổng số tiền vay là: 3.660 triệu đồng, dư nợ tại thời điểm 31/12/2009 là: 2. Đến đầu năm 2000, ngân hàng căn cứ vào số liệu báo cáo tài chính 6 tháng năm 1999 để thẩm định và tiếp tục cho vay. Tình hình tài sản và nguồn vốn tại thời điểm 30/06/1999 không có biến động lớn so với cuối năm 1998.
Lợi nhuận 6 tháng đạt: 252 triệu đồng. Từ tháng 1 đến đầu tháng 4/2000, ngân hàng đã giải ngân 22 món vay với doanh số: 7.800 triệu đồng, dư nợ đến thời điểm 6/4/2000 là: 9. Sau đó ngân hàng áp dụng phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng đối với Công ty, thời điểm này Công ty vẫn chưa lập được Báo cáo tài chính năm 1999 và ngân hàng căn cứ vào Báo cáo tài chính tại thời điểm 30/6/1999 để thẩm định, theo báo cáo cho thấy tình hình tài chính của Công ty vẫn ổn định, đảm bảo khả năng thanh toán. Căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Công ty, ngân hàng đã xác định và phê duyệt hạn mức tín dụng năm 2000 là: 13.650 triệu đồng, và tiếp tục giải ngân vốn trong hạn mức tín dụng đã ký kết.
Đến tháng 5/2000 Công ty hoàn thành việc quyết toán tài chính năm 1999 và Báo cáo tài chính cho thấy năm 1999 Công ty lỗ 5. Khoản lỗ này được ghi nhận vào kỳ kế toán quý 4/1999. Nguyên nhân lỗ do Công ty tiến hành điều chỉnh chi phí, do chi phí các năm trước các đơn vị trực thuộc báo cáo không đầy đủ, do chênh lệch tỷ giá. Tình hình khó khăn về tài chính của Công ty bắt đầu bộc lộ.
Năng lực quản lý của Công ty và các đơn vị trực thuộc (Công trường) cũng cho thấy nhiều vấn đề yếu kém làm cho năng suất lao động thấp, quản lý tài chính lỏng lẻo. Do đã giải ngân một lượng vốn lớn vào các công trình, ngân hàng vẫn tiếp tục tài trợ cho Công ty nhằm hoàn thành các công trình đúng tiến độ tạo điều kiện cho công ty tiếp tục sản xuất và có thể trả nợ ngân hàng. Tuy nhiên năm 2000, doanh thu của Công ty giảm mạnh (31.373 triệu đồng) và lỗ 7. Đến thời điểm này thì Công ty không còn vốn chủ sở hữu do lỗ lũy kế đã lớn hơn vốn chủ sở hữu.
Năm 2001 Công ty tiếp tục lỗ 6. Ngân hàng đã nhiều lần cùng Công ty và Tổng Công ty bán kế hoạch tháo gỡ khó khăn, khắc phục lỗ, với sự hổ trợ tạm thời về tài chính từ Tổng Công ty, Ngân hàng tiếp tục cho vay quay vòng để hoàn thành các công trình, nhưng do bộ máy quản lý và nhân viên của công ty yếu kém nên tình hình không có tiến triển khả quan. Công ty đã phải thay đổi nhiều Giám đốc nhưng tình hình vẫn không thể cải thiện. Đến tháng 2/2002 ngân hàng chấm dứt cho vay do Công ty hoàn toàn không có khả năng trả nợ, tình tình sản xuất kinh doanh của Công ty đã hoàn toàn đình trệ và không có dòng tiền để quay vòng, do các công trình cũ đã hoàn thành hoặc không hoàn thành phải bàn giao cho đơn vị khác thi công, không thắng thầu các công trình mới do năng lực tài chính suy giảm.
Số lỗ lũy kế đến 31/12/2002 là: 32. Năm 2003, Ngân hàng tiến hành khởi kiện phá sản đối với Công ty. Tuy nhiên lường trước khó khăn của việc tiến hành các thủ tục phá sản, Ngân hàng chuyển sang khởi kiện đòi nợ. Tòa án đã mở thủ tục hòa giải và hai bên thỏa thuận lịch trình trả nợ cụ thể.
Sau đó, quá trình cơ cấu lại Công ty gặp nhiều vướng mắc và Công ty vẫn không thể thực hiện việc trả nợ theo cam kết, việc thi hành án cũng bị kéo dài. Năm 2004, Giám đốc Công ty nộp đơn lên Tòa án yêu cầu mở thụ tục phá sản. Toàn bộ tài sản của Công ty được kê biên để tiến hành thủ tục phá sản. Tuy vậy, do thủ tục tiến hành chậm, nhiều tài sản là máy mọc thiết bị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 thi công xuống cấp nghiêm trọng.
Đến nay, Tòa vẫn chưa tuyên bố phá sản đối với Công ty. Toàn bộ khoản nợ vay của Công ty trở thành nợ có khả năng mất vốn và ngân hàng đã phải dùng nguồn dự phòng rủi ro để xử lý khoản nợ. Phân tích: Thông tin bất cấn xứng trong hoạt động tín dụng là khá phổ biến, đặc biệt ở thị trường chưa có nhiều minh bạch như tại Việt Nam hiện nay. Các báo cáo tài chính của phần lớn các doanh nghiệp không được kiểm toán và có độ chính xác thấp.
Trong trường hợp xảy ra rủi ro tín dụng như trên, vấn đề là ngân hàng không có đầy đủ thông tin về thực trạng tài chính của doanh nghiệp, do đó những phân tích để đi đến quyết định cấp tín dụng là thiếu chính xác do: Thứ nhất, thông tin tài chính không được cập nhật: Mặc dù theo quy định tại Quyết định 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp, doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính hàng quý và cuối niên độ kế toán, báo cáo quý được gửi cho các cơ quan chức năng chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày cuối quý, và báo cáo năm được gửi chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán. Tuy nhiên, tại thời điểm cho vay ngân hàng là tháng 9/1999 nhưng Công ty chỉ có Báo cáo tài chính năm 1998, mà không có báo cáo tài chính quý 2/1999, tương tự báo cáo tài chính năm 1999 cũng lập rất chậm so với quy định. Việc chậm trễ trong việc lập và cung cấp báo cáo tài chính làm cho thông tin tài chính của doanh nghiệp kém minh bạch, thiếu chính xác. Do đó những phân tích dựa trên thông tin này là thiếu sự chính xác về thực trạng tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm vay vốn.
Đối với doanh nghiệp mặc dù báo cáo tài chính được lập chậm, nhưng là người trong nội bộ, lãnh đạo công ty có thể nắm bắt rõ và cập nhật thông tin tài chính của đơn vị qua các sổ sách kế toán hay báo cáo nội bộ từ bộ phận kế toán của Công ty. Như vậy với tình trạng báo cáo tài chính không cập nhật thì Công ty có nhiều lợi thế về thông tin tài chính hơn Ngân hàng. Thứ hai, báo cáo tài chính của doanh nghiệp không chính xác: Đây là vấn đề phổ biến hiện nay, các doanh nghiệp tư nhân lập các báo cáo thiếu chính xác nhằm mục đích trốn thuế, các doanh nghiệp nhà nước thì kinh doanh thua lỗ nhưng báo cáo lãi. Theo Cục Thuế TPHCM, qua phân loại, kiểm tra công tác khai nộp thuế tại các doanh nghiệp ở TPHCM LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 gần đây, cho thấy có trên 60% số doanh nghiệp khai lỗ nhiều năm liền do rủi ro, kinh doanh thua lỗ và có cả nguyên nhân doanh nghiệp khai lỗ để gian lận, trốn thuế (Thời báo Kinh tế Sài gòn, 2010).
“Báo cáo tài chính của không ít DNNN “có mùi”. Cụ thể, 4/20 tổng công ty được kiểm toán, KTNN xác nhận là hoạt động kinh doanh năm 2008 lỗ tới 28,1 tỷ đồng, trong khi đó, 4 đơn vị này trước đó đã thuê kiểm toán độc lập xác nhận báo cáo tài chính không những không lỗ, mà còn lãi 800 triệu đồng…”. Theo ông Lê Minh Khái, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, tình trạng lãi giả, lỗ thật, xuất phát từ nguyên nhân công tác quản lý vật tư, hàng hoá tại không ít DNNN còn nhiều tồn tại như không kiểm kê hàng tồn kho khi khoá sổ kế toán, không trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, nhiều công trình đã quyết toán, hạch toán đủ doanh thu từ những năm trước nhưng “quên” không tính chi phí…(Mạnh Bôn, 2010). Như trong tình huống trên, doanh nghiệp đã hạch toán vào doanh thu năm 1998 phần khối lượng hoàn thành, nhưng không kê khai đầy đủ chi phí, do đó báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 1998 vẫn có lãi, nhưng thực tế đây là khoản “lãi giả” và khi doanh nghiệp tập hợp đầy đủ chi phí thì cho thấy phát sinh khoản lỗ rất lớn (gần 50% vốn chủ sở hữu).