CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐÈ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề lo âu trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu về lo âu trên thế giới Thuật ngữ “Rối loạn lo âu“ đó được sử dụng từ lâu trong lịch sử phát triển của ngành tâm thần và y học. Lần đầu tiên thuật ngữ Angest được Kerkgard (Đan Mạch) sử dụng để chỉ trạng tháng lo âu vào năm 1844, [dẫn theo [10; 123].
Vào những năm cuối thế kỳ 19, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm một cách đặc biệt đến tình trạng sức khỏe tâm thần của con người. Trong các bệnh về sức khỏe tân tầm, lo âu, trầm cảm được xem là những bệnh tâm căn. Năm 1866, Morel gộp chung lại những trạng thái lo âu dưới cái tên là: “Hoang tưởng cam xúc“ (Délire émotif), khác với hystérie và ưu bệnh (hypochondria) [10; 123]. Đến năm 1871, Dacosta đã mô tả các triệu chứng lo âu gọi là trạng thái tim bị kích thích.
Beck là người đầu tiên tách trạng thái lo âu, trầm cảm ra khỏi suy nhược thần kinh. Sau đó, vào năm 1895, Freud đề nghị khái niệm: “Loạn thần kinh lo hai“ bao gồm sự chờ đợi và lo âu cấp tính. Ông đó đề xuất ra thuật ngữ “nhiễu tâm lo âu“ trên cơ sở phân tích các hiện tượng lâm sàng rỗi loạn ám ảnh [10; 123]. Khái niệm nay được nhiều người chấp nhận và sử dung trong thời gian dài từ thế kỷ XX đến nay, ông cho rằng chứng bệnh tâm căn này là do xung đột nội tâm vô thức.
Năm 1960, khi bàn về lo âu và rối loạn lo âu, Donald Klein đề nghị chia ra hai thực thé khác nhau là rối loạn hoảng loạn và lo âu lan tỏa mãn tính [10; 123]. Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 8 (ICD8, 1968) tổ chức Y tế thế giới cho rằng, lo âu được xếp vào lo âu tâm căn (tức là bệnh do căn nguyên tâm lí). Bang phân loại bệnh quốc tế lần thứ 9, (ICD9, 1978), mặc dù đã có nhiều tiến bộ, nhiều thay đổi trong bảng phân loại, nhưng họ vẫn xếp các trạng thái lo âu vào các rỗi loạn tâm căn, tuy nhiên bắt đầu theo hướng mô tả các triệu chứng thuần túy về các mức độ khác nhau của các rối loạn lo âu. Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD10, 1992) đã ghi nhận sự kết hợp quan trong của các rỗi loạn này với các nguyên nhân tâm lí.
Rối loan lo âu được xếp vao các rối loan tâm căn có liên quan đến stress và dang cơ thể. Khoảng những năm 80 thế kỷ XX, các nhà tâm lí học Nga xếp các trạng thái lo âu sợ hãi ám ảnh của trẻ em vào hội chứng rỗi loạn thần kinh chức năng. Trong bảng phân loại các rồi loạn tâm lí và bệnh tâm than của Hiệp hội tâm than Mỹ (Diagnostic and Statistical Manual for Mental Disorders - DSM III, 1983), thi khái niệm rối loan lo âu bắt đầu được sử dung chính thức. Phan chia rối loạn lo âu thành rối loạn lo âu chia ly, rỗi loạn lo âu quá mức, rỗi loạn lo âu né tránh.
Nhưng đến năm 1994, Hội tâm thần học Mỹ đưa ra bảng phân loại DSM - IV [23; 136], thi mỗi loại rối nhiễu tâm thần (Mental Disorders) được khái niệm hóa như là một nhóm những triệu chứng bat thường về tâm lí (hoặc những mẫu hành vi ứng xử bất thường) có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Chúng xảy ra ở một cá nhân và liên quan dến stress tiêu cực (ví dụ: triệu chứng đau) hoặc liên quan đến việc làm mat năng lực của cá nhân (tức là làm hỏng một hay một số chức năng duy trì cuộc sống cân bằng của cá nhân), hoặc làm tăng đáng ké sự nguy hiểm cho cá nhân qua việc phải chịu đựng những cảm giác tiêu cực (như ám ảnh về cái chết, sự đau khổ, sự mất năng lực) hoặc sự mất mát đáng kê, sự tự do của cá nhân (nhưng những triệu chứng nay không phải là một sự đáp ứng được người ta chấp nhận về mặt văn hóa hoặc được người ta mong đợi, chăng hạn cái chết của người thân). Bất ké điều gì là nguyên nhân của những triệu chứng thì sự rỗi nhiễu hiện có phải được xem là sự biểu hiện của sự suy thoái về chức năng ở các góc độ sinh lí, tâm lí (nhận thức — hành vi) xảy ra ở các cá nhân nao đó. Vài nét về tình hình nghiên cứu lo âu ở Việt Nam Theo những số liệu mà chúng tôi thu được, thì cho đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về rối loạn lo âu một cách độc lập, chuyên biệt.
Thông thường, các nghiên cứu đều tập trung vào nhiều yếu t6 cùng một lúc. Vi dụ, các nhà khoa học nghiên cứu các rối nhiễu tâm trí, hay các tổn thương tâm lí. thì rối loạn lo âu chỉ nằm một phan nhỏ, hep trong đó. Ké từ năm 1987 đến nay, Việt Nam chưa hề có một cuộc nghiên cứu trên quy mô toàn quốc về vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ em.
Theo bác sĩ Hoàng Cam Tú, đáng ké nhất là cuộc nghiên cứu của ngành tâm thần về rối nhiễu hành vi ở trẻ em (chỉ là một trong những bệnh về sức khỏe tâm thần) [32]. Tìm hiểu van dé này chúng tôi đã thu được những số liệu như sau ở Việt Nam: Dưới góc độ nghiên cứu chân đoán trị liệu, theo báo cáo thống kê phân loại các rỗi nhiễu tâm lí của trẻ em và thiếu niên, qua 352 hồ sơ của Bác si Phạm Văn Doan [16; 28], thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ em (NT) tinh từ tháng 1/1989 đến tháng 10/1995 có các nhóm rối nhiễu tâm trí cơ bản sau: - Loạn tâm: có 24 trường hợp chiếm 6,8%. trong đó chủ yếu là tâm thần phân liệt ở tuôi tiền dậy thì. - Nhiễu tâm: Có 95 trường hợp, chiếm 27% chủ yếu là nhiễu tâm tiễn triên có biêu hiện hysteria va ám sợ trội - Bệnh lí về nhân cách và các rối nhiễu tiến triển ngoai loan tâm va nhiễu tâm có 14 trường hợp, chiếm 4% trong đó chu yếu là trái nết, di tính.
Bác sĩ Phạm Văn Trụ, trưởng Khoa khám bệnh bệnh viện tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, cuộc sống hiện tai làm con người ngày càng có nhiều áp lực, vì vậy mà số người mắc bệnh lo âu đến khám ngày càng nhiều, chỉ trong tháng 11/2004 đã có tới 812 bệnh nhân, tăng nhiều lần so với những tháng trước [34]. Dẫn theo tài liệu của Nguyễn Công Khanh, "Báo cáo của tô chức y tế thế giới năm 1995 công bố rằng có khoảng 20% người lớn đã có trải nghiệm cơn hoảng sợ trong đời. Theo thống kê của nhiều nước trong nhiều thập kỷ qua, tỉ lệ rỗi loan lo âu trẻ em là 5,7 đến 17,7%. Theo Kashani và O.Verchell (1997) tỉ lệ rỗi loạn lo âu trẻ em và vị thành niên Mỹ là khoảng 9%.
Còn tại Hoa Kỳ hiện nay, mỗi năm có hàng triệu dân mặc bệnh này" [16; 26]. Theo Bác sĩ Nguyễn Thanh Hồi - Giám đốc Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương, kết quả cuộc khảo sát mới đây đưa ra con số giật mình: 19,46 % học sinh trong độ tuổi từ 10-16 tudi gặp trục trặc về sức khỏe tâm thần. Trong khi đó, hiểu biết của xã hội (thậm chí ngay trong ngành y tế) về chăm sóc sức khỏe tâm than còn rất nghèo nàn. Như vậy, gần 20% trẻ đưới 16 tuổi có vấn đề sức khỏe tâm thần [33].
Các khái niệm công cụ được sử dụng trong đề tài 1. Khái niệm lo âu Có nhiều định nghĩa khác nhau về lo âu, trong đó, nồi bật lên là các định nghĩa: Theo tác giả Nguyễn Minh Tuấn, lo âu là một rối loạn có cấu trúc đơn sơ thé hiện ra ngoài bang một mối lo âu không đối tượng, lan tỏa và dai đăng [19,11]. Theo tác giả Dinh Dang Hoe: Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội, mà con người phải tìm cách vượt qua, ton tại, hướng tới [7,37]. Theo bác sĩ Lâm Xuân Điền, Giám đốc bệnh viện tâm than TP H6 Chi Minh: “Lo âu là tâm trạng chờ đợi một việc gì đó sắp xây ra mà mình không biết được hậu quả” [34].
Còn theo từ điển tâm lý, Nguyễn Khắc Viện, lo âu là việc đón chờ và suy nghĩ về một điều gì đó có thể để mà không chắc có thể đối phó được là lo. Nếu sự việc cụ thé mà đã từng gây nguy hiểm thì là lo sợ. Trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi tâm lý bị rối loạn, một triệu chứng thường gặp là mối lo nhưng cụ thể không thật rõ là lo về cái gì, sợ về cái gì, đó là hãi. [21; 190] Theo từ điển Wikipedia, lo âu về bản chất là đáp ứng với một đe dọa không được biết trước từ bên trong, mơ hé hay có nguồn gốc xung đột, còn sợ là đáp ứng với một đe doa được biết rõ ràng từ bên ngoài hay không có nguồn gốc xung đột.
Cả hai đều là đáp trả lại các kích thích bất lợi của môi trường nhằm gia tăng tính tích cực của hành vi, chăng hạn sợ hãi con rắn được tìm thấy ở nhiều người được cho là có ích nó giúp họ tránh những ton thương mà người không có cảm giác sợ này có thé gặp phải do không lường trước được nguy hiểm (như bị rắn căn). Từ những cách hiểu khác nhau về lo âu vừa trình bày trên, chúng ta có thể xem xét thuật ngữ lo âu qua những điểm sau: - Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tim cách vượt qua dé tồn tại. - Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xây đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp dé đương dau với sự đe doa. Lo âu và sợ hãi cũng có những điểm khác nhau, với lo âu, đó là một đáp ứng với một sự đe doa mà cá nhân không biết được rõ ràng, mơ hồ, thường phát sinh từ bên trong và mang tính xung đột, mâu thuẫn.
Còn sợ hãi là đáp ứng với một sự đe dọa, mà sự đe dọa này thường được xác định hoặc biết rõ, thường phát sinh từ bên ngoài và không mang tính xung đột.