MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Về mặt thực tiễn Xã hội ngày càng hiện đại kéo theo rất nhiều sự thay đổi trong đời sống con người, phát sinh ra nhiều mối nguy hiểm tiềm năng cho sức khỏe tâm trí. Đó là một loạt các trạng thái khác nhau, từ những rối nhiễu tâm trí như lo âu, trầm cảm, ám ảnh, hay các chứng hoang tưởng, tâm thần phân liệt, động kinh. Trong đó, lo âu là hiện tượng tự nhiên, hết sức bình thường của con người trong khi họ gặp những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống.
Các nhà khoa học cho rằng mười phần trăm (10%) lo âu là cần thiết cho một người bình thường. Nhưng vấn đề lại ở chỗ không phải lúc nào người ta cũng có một chút lo âu, mà ở rất nhiều người lo âu đã trở thành bệnh lí. Vì nó luôn làm đảo lộn cuộc sống cá nhân, làm cho người đó ăn không ngon, ngủ không yên, tâm thần bất an. Trong nhiều trường hợp, người có rối loạn lo âu có thể giảm được sự lo lắng thái quá nếu có những biện pháp hỗ trợ thích hợp.
Về mặt lý thuyết Nghiên cứu về những nguyên nhân gây ra các bệnh tâm trí ấy là cực kỳ cần thiết để phục vụ cho việc trị liệu tâm lí, giúp con người trở lại được trạng thái bình thường; nhưng từ trước tới nay, mặc dù có nhiều nghiên cứu về vấn đề sức khoẻ tâm trí nói chung, nhưng lại ít có những nguyên cứu chuyên biệt về rối loạn lo âu. Rối loạn lo âu tồn tại ở mọi lứa tuổi, nhưng với các em học sinh THPT, lứa tuổi 15-18 thì khả năng xuất hiện rối loạn lo âu là tương tối cao, bởi trước hết đây là lứa tuổi có đặc điểm tâm sinh lí đặc biệt; những thay đổi ở lứa tuổi dậy thì gây ra không ít những vướng mắc ở các em. Hơn nữa, với các em học sinh trung học phổ thông, sự lo lắng của các em về việc học tập, về trường thi, 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khối thi, về tương lai, về ngành nghề và cả những vấn đề bạn bè. đều có ảnh hưởng không nhỏ đến tình cảm và suy nghĩ của các em.
Chính vì lí do trên đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh THPT (cụ thể là chúng tôi đã nghiên cứu trên học sinh trường THPT Chuyên Quảng Bình). Chúng tôi hi vọng rằng, qua nghiên cứu này, có thể tìm ra một số nguyên nhân chủ yếu gây ra rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông. Đồng thời, qua đây, chúng tôi có thể đưa ra được một vài khuyến nghị cho các ngành, các cấp và đặc biệt là với các bậc phụ huynh trong cách quan tâm, dạy dỗ con cái mình nhằm giảm thiểu nguy cơ rối loạn lo âu ở các em học sinh trong lứa tuổi trung học phổ thông. Đối tƣợng nghiên cứu Nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông (nghiên cứu tại trường THPT chuyên Quảng Bình).
Mục đích nghiên cứu - Chỉ ra một số nguyên nhân gây rối loạn lo âu, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm thiểu tình trạng rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông Chuyên. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu - Chỉ ra thực trạng rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông Chuyên. - Lý giải những nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở các em.
- Phân tích 3 trường hợp cụ thể để minh hoạ nguyên nhân gây rối loạn lo âu. - Đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm thiểu tình trạng rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông Chuyên. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khách thể nghiên cứu - Nghiên cứu đại trà 600 em học sinh trường THPT chuyên Quảng Bình tham gia điều tra thực trạng.
- Nghiên cứu sâu 90 em học sinh có biểu hiện rối loạn lo âu trùng nhau theo kết quả điều tra ở cả 2 thang đo lo âu (bằng phương pháp điều tra bảng hỏi và phỏng vấn sâu). - 2 giáo viên dạy tại trường THPT Chuyên Quảng Bình. - 2 phụ huynh của các em học sinh trường THPT Chuyên Quảng Bình 6. Giới hạn nghiên cứu 6.
Giới hạn nội dung nghiên cứu - Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu 4 nhóm nguyên nhân gây rối loạn lo âu là: nhóm nguyên nhân liên quan đến học tập, liên quan đến gia đình, liên quan đến các mối quan hệ xã hội và liên quan đến bản thân học sinh. - Trong đề tài này, chúng tôi dùng cụm từ “rối loạn lo âu“ để biểu đạt cho việc lo âu quá mức bình thường. Những em học sinh có rối loạn lo âu được xác định bằng việc các em ấy có điểm đo lo âu ở thang DASS 42 từ 15 điểm trở lên và ở thang Zung từ 40 điểm trở lên. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu học sinh, giáo viên và phụ huynh của các em học sinh thuộc trường trung học phổ thông Chuyên Quảng Bình, Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình.
Giả thuyết nghiên cứu - Trong các nhóm nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu cho các em học sinh trung học phổ thông mà chúng tôi đã đề cập đến ở trên, thì nhóm nguyên nhân liên quan đến lĩnh vực học tập gây ra rối loạn lo âu cho các em nhiều nhất. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Rối loạn lo âu xuất hiện ở những em học sinh cuối cấp (học sinh lớp 12) cao hơn so với các em lớp dưới (lớp 10 và 11). Phƣơng pháp nghiên cứu. - Phương pháp nghiên cứu tài liệu - Phương pháp quan sát - Phương pháp toạ đàm - Phương pháp trắc nghiệm - Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi - Phương pháp phỏng vấn sâu - Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) - Phương pháp thống kê toán học Các phương pháp nghiên cứu này sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể ở chương 2 (trang 41).
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề lo âu trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu về lo âu trên thế giới Thuật ngữ “Rối loạn lo âu“ đó được sử dụng từ lâu trong lịch sử phát triển của ngành tâm thần và y học. Lần đầu tiên thuật ngữ Angest được Kerkgard (Đan Mạch) sử dụng để chỉ trạng tháng lo âu vào năm 1844, [dẫn theo [10; 123].
Vào những năm cuối thế kỳ 19, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm một cách đặc biệt đến tình trạng sức khỏe tâm thần của con người. Trong các bệnh về sức khỏe tân tầm, lo âu, trầm cảm được xem là những bệnh tâm căn. Năm 1866, Morel gộp chung lại những trạng thái lo âu dưới cái tên là: “Hoang tưởng cảm xúc“ (Délire émotif), khác với hystérie và ưu bệnh (hypochondria) [10; 123]. Đến năm 1871, Dacosta đã mô tả các triệu chứng lo âu gọi là trạng thái tim bị kích thích.
Beck là người đầu tiên tách trạng thái lo âu, trầm cảm ra khỏi suy nhược thần kinh. Sau đó, vào năm 1895, Freud đề nghị khái niệm: “Loạn thần kinh lo hãi“ bao gồm sự chờ đợi và lo âu cấp tính. Ông đó đề xuất ra thuật ngữ “nhiễu tâm lo âu“ trên cơ sở phân tích các hiện tượng lâm sàng rối loạn ám ảnh [10; 123]. Khái niệm này được nhiều người chấp nhận và sử dụng trong thời gian dài từ thế kỷ XX đến nay, ông cho rằng chứng bệnh tâm căn này là do xung đột nội tâm vô thức.
Năm 1960, khi bàn về lo âu và rối loạn lo âu, Donald Klein đề nghị chia ra hai thực thể khác nhau là rối loạn hoảng loạn và lo âu lan tỏa mãn tính [10; 123]. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 8 (ICD8, 1968) tổ chức Y tế thế giới cho rằng, lo âu được xếp vào lo âu tâm căn (tức là bệnh do căn nguyên tâm lí). Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 9, (ICD9, 1978), mặc dù đã có nhiều tiến bộ, nhiều thay đổi trong bảng phân loại, nhưng họ vẫn xếp các trạng thái lo âu vào các rối loạn tâm căn, tuy nhiên bắt đầu theo hướng mô tả các triệu chứng thuần túy về các mức độ khác nhau của các rối loạn lo âu. Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD10, 1992) đã ghi nhận sự kết hợp quan trọng của các rối loạn này với các nguyên nhân tâm lí.
Rối loạn lo âu được xếp vào các rối loạn tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể. Khoảng những năm 80 thế kỷ XX, các nhà tâm lí học Nga xếp các trạng thái lo âu sợ hãi ám ảnh của trẻ em vào hội chứng rối loạn thần kinh chức năng. Trong bảng phân loại các rối loạn tâm lí và bệnh tâm thần của Hiệp hội tâm thần Mỹ (Diagnostic and Statistical Manual for Mental Disorders - DSM III, 1983), thì khái niệm rối loạn lo âu bắt đầu được sử dụng chính thức. Phân chia rối loạn lo âu thành rối loạn lo âu chia ly, rối loạn lo âu quá mức, rối loạn lo âu né tránh.
Nhưng đến năm 1994, Hội tâm thần học Mỹ đưa ra bảng phân loại DSM – IV [23; 136], thì mỗi loại rối nhiễu tâm thần (Mental Disorders) được khái niệm hóa như là một nhóm những triệu chứng bất thường về tâm lí (hoặc những mẫu hành vi ứng xử bất thường) có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Chúng xảy ra ở một cá nhân và liên quan dến stress tiêu cực (ví dụ: triệu chứng đau) hoặc liên quan đến việc làm mất năng lực của cá nhân (tức là làm hỏng một hay một số chức năng duy trì cuộc sống cân bằng của cá nhân), hoặc làm tăng đáng kể sự nguy hiểm cho cá nhân qua việc phải chịu đựng những cảm giác tiêu cực (như ám ảnh về cái chết, sự đau khổ, sự mất năng lực) hoặc sự mất mát đáng kể, sự tự do của cá nhân (nhưng những triệu chứng này không phải 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là một sự đáp ứng được người ta chấp nhận về mặt văn hóa hoặc được người ta mong đợi, chẳng hạn cái chết của người thân). Bất kể điều gì là nguyên nhân của những triệu chứng thì sự rối nhiễu hiện có phải được xem là sự biểu hiện của sự suy thoái về chức năng ở các góc độ sinh lí, tâm lí (nhận thức – hành vi) xảy ra ở các cá nhân nào đó.