Mở đầu Chương này trình bày tong quan nganh cả phê Việt Nam, lý do hình thành đề tai, qua đó nêu lên mục tiêu, ý nghĩa và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Tóm tắt nội dung chính theo trình tự bố cục của dé tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Giới thiệu cơ sở lý thuyết, những định nghĩa về rủi ro và rủi ro nông nghiệp, rủi ro trong chuỗi cung ứng cả phê. Mô hình nghiên cứu thực hiện trước đây.
Từ đó, đề xuất khung nghiên cứu rủi ro chuỗi cung ứng cà phê tại Việt Nam. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu và kỹ thuật phân tích dữ liệu nhăm đánh giá mức độ tác động của các yếu tô rủi ro lên toàn bộ chuỗi cung ứng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này tổng hợp kết quả thực hiện nghiên cứu bao gồm: mô tả dữ liệu thu thập, phân tích, đánh gia khả năng xảy ra rủi ro, xây dựng ma trận rủi ro xác định mức độ rủi ro, mức độ tác động và sắp xếp thứ tự ưu tiên. Từ đó đề xuất các chiến lược nhằm giảm thiểu rủi ro trong chuỗi cung ứng cà phê tại Việt Nam.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu, từ đó đề xuất một số kiến nghị về quản lý chuỗi cung ứng ca phê. Chương nay cũng nêu những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYET Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước đây, từ đó dé xuất mô hình nghiên cứu các yêu tô rủi ro trong Chudi cung ứng cà phê tại Việt Nam.1 ĐỊNH NGHĨA VÉ RỦI RO Có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về rủi ro nói chung và rủi ro trong sản xuất nông nghiệp nói riêng. Định nghĩa về “rủi ro” được đưa ra dưới nhiều góc nhìn khác nhau.
Theo Bùi Thị Gia (2005), cho đến nay chưa có định nghĩa thống nhất về rủi ro. Có những trường phái khác nhau, tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa khác nhau vềrủi ro. Tuy nhiên, tóm lại có thé chia làm 2 trường phái lớn, trường phái truyền thống (hay còn gọi là trường phái tiêu cực) và trường phái trung hòa.1 Trường phái tiêu cực Theo trường phái tiêu cực hay cách nghĩ truyền thống thì “rủi ro là những thiệt hại, mat mát, nguy hiểm. khó khăn, hoặc điều không chắc chan có thé xảy ra cho con người”.
Theo cách nghĩ này thì rủi ro được định nghĩa như sau: “Rui ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy ra” (Từ điển tiếng Việt, 1995). — “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau don, thiệt hại” (Từ điển Oxford) — “Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mat mát, hu hại” hoặc “rủi ro là yếu tô liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc chắn”. — Trong lĩnh vực kinh doanh, “rủi ro là sự tôn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”. Hoặc “rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đền sự tôn tại và phát triên của doanh nghiệp”.2 Theo trường phái trung hòa: — Theo Knight (1964) “Rui ro là sự bất trắc có thé đo lường được” hay “Rui ro là tong hợp những sự ngẫu nhiên có thé đo lường được bang xác suất” Irving (1956).
Theo Willett (1951) “Rui ro là sự bất trắc cu thể liên quan đến việc xuất hiện một bién cố không mong đợi”. Rui ro có thé xuất hiện trong hầu hết các hoạt động của con người. Khi có rủi ro người ta không thể dự đoán chính xác được kết quả. Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định.
— Theo Ngô Quang Huân (2008), nguy cơ rủi ro xuất hiện bất cứ khi nào khi một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước” và rủi ro có thé đo lường được nhưng rủi ro là sự biến động tiém an những kết quả. — Đoàn Thị Hồng Vân (2005), tóm lược nội dung theo trường phái trung hòa thì “rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”. Rủi ro vừa mang tính tiêu cực vừa mang tính tích cực. Rủi ro có thể mang đến những tốn thất, mất mát, nguy hiém,.cho con người, nhưng cũng có thé mang đến những cơ hội.
Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng. đo lường rủi ro người ta có thể tìm ra biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai. Vậy, rủi ro có thé xuất hiện bất cứ dau, bat cứ lĩnh vực, ngành nghề nao và trong mỗi lĩnh vực, ngành nghề, rủi ro mang những đặc điểm, những đặc trưng riêng và rủi ro có thé đo lường được.2 PHAN LOẠI RỦI RO Callkin (1983) chia rủi ro thành hai loại: rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính (Callkin et. - Rui ro kinh doanh: liên quan đến tat cả các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập thuần của trang trại.
Các rủi ro này có thé hạn chế được bang cách thay đổi quyết định sản xuất. Sáu yếu tô chính dẫn đến rủi ro kinh doanh: + Biến động năng suất + Biến động giá + Công nghệ kỹ thuật mới (thiếu kiến thức về kỹ thuật sản xuất hiện tai) + Các chương trình của chính phủ II + Thay đổi luật pháp + Thay đổi sở thích của người tiêu dùng. - Rủi ro tài chính: phản ánh “sự mat an toàn” về tài chính của nông hộ/doanh nghiệp, thé hiện kha năng trả nợ khả năng thanh toán. Trong nông nghiệp, rủi ro được thể hiện qua những kết quả tiêu cực xuất phát từ dự đoán không hoàn hao, sự thay đối của khí hậu và biến động giá.
Các yếu tổ nay bao gồm sự thất thường của tự nhiên (ví dụ như sâu hại, dịch bệnh) hay thời tiết không năm trong sự kiểm soát của sản xuất nông nghiệp. Rủi ro nông nghiệp cũng bao gồm các biến động bat lợi về giá cả đầu vào va đầu ra (WorldBank, 2005). Như vậy, rủi ro nông nghiệp là những bat trac, ton thất xảy ra cho người sản xuất nông nghiệp gây ra bởi nhiều nguyên nhân như: thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, giá cả, cây giống và kế cả những rủi ro do con người gây ra trộm cắp, lừa đảo trong kinh doanh. Có nhiễu cách dé phân loại rủi ro trong nông nghiệp, tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu cho răng có 5 nhóm rủi ro chính như sau: Rủi ro sản xuất (production risk), rủi ro thị trường (price or marketing risk), rủi ro thể chế (institutional risk), rủi ro do con người (individual risk) và rủi ro tài chính (financial risk).
— Rui ro sản xuất: nông nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tổ không kiểm soát được như khí hậu, thời tiết, sâu bệnh, cỏ dại và giống xấu. Bên cạnh đó kỹ thuật, công nghệ mới cũng là yếu tố gây ra rủi ro cho người sản xuất. — Rui ro gid: giá nông sản thay đổi năm này qua năm khác và đặc biệt là biến động lớn theo mùa vụ sản xuất ngay trong một năm. Giá nông sản thay đổi bởi nhiều lý do mà nông dân và doanh nghiệp không thể kiểm soát hết được.
—_ Núi ro thé chế: việc thay đổi các qui định, chính sách của nhà nước, của các đơn vị quản lý ngành có ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp có thể làm cho kế hoạch và lợi nhuận không đạt được như mục tiêu đã đặt ra. — Núi ro do con người gay ra hoặc rủi ro ca nhán: nông hộ tự ban than họ cũng có thể là nguyên nhân gây ra rủi ro, ví dụ như ốm dau, bệnh tật kéo dai,.c6 thé ảnh hưởng đến sản xuất hoặc làm tăng chi phí đáng kể. Hoặc, người làm công 12 thiếu can thận trong công việc và sử dụng máy móc cũng có thé dẫn đến những rủi ro, thiệt hai lớn. — Rui ro tài chính: là nói đến sự an toàn hoặc mat an toàn về tài chính.
Nguyên nhân sinh ra rủi ro tài chính là do sử dụng vốn vay. Chỉ khi nông hộ hoặc doanh nghiệp tự tài trợ 100% vốn thì mới không có rủi ro về cán cân tài chính. Do vậy, tăng lãi suất vốn vay cũng dẫn đến khả năng tăng rủi ro tài chính.3 RỦI RO TRONG CHUOI CUNG UNG CÀ PHÊ TẠI VIỆT NAM 2.1 Chuỗi cung ứng cà phê tại Việt Nam Rủi ro trong nông nghiệp có thể nói là quan trọng đối với toàn xã hội, theo Bùi Thị Gia (2005).nhóm người quan tâm nhất đến rủi ro là: - Nông dan - Nhiing người tư van, hướng dẫn nông dan, - Cac hãng, công ty thương mai mua bán với nông dân, - Cac nhà nghiên cứu nông nghiệp, - Cac nhà hoạch định chính sách. Đối với chuỗi cung ứng cà phê, tác giả xác định các thành viên trong chuỗi giá trị gồm: nông hộ sản xuất cà phê -> đại lý, cơ sở thu mua -> công ty kinh doanh, xuất khẩu -> Công ty rang xay cà phê -> người tiêu dùng cuối cùng (thưởng thức những sản phẩm từ cà phê).
Tuy nhiên, tác giả không nghiên cứu đến các thành viên ở cuối chuỗi mà tập trung nghiên cứu các yếu t6 rủi ro ảnh hưởng đến ba mối liên kết chính trong chuỗi cung ứng cả phê tại Việt Nam gồm: nông hộ, đại lý thu mua và công ty kinh doanh xuất khâu. Những thành viên quan tâm nhât và chịu nhiêu rủi ro nhât trong sản xuât ca phê. ( WG NÔNG HỘ ⁄ ĐẠI LÝ —N £ CTY KINH NÌ SẮN XUẤT |=) THUMUA [| DOANH/ Ộ CÀ PHÊ 5 Ộ CÀ PHÊ 5 \ XUẤT KHẨU & S/S Hình 2.1 Chuỗi cung ứng ca phê tại Việt Nam 13 - _ Nông hộ sản xuất cà phê: là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp, tư liệu sản xuất chính là đất đai và cây trồng chính là cây cà phê. - Daily thu mua cà phê: là người mua sản phẩm từ nông hộ, còn gọi là người mua trung gian hay hệ thống thu gom tự tổ chức.
Những co sở nay thu mua cà phê từ nông hộ, sơ chế, đảo trộn, đóng bao và bán hang cho các Công ty kinh doanh, xuất khẩu. - _ Công ty kinh doanh, xuất khẩu cà phê: là doanh nghiệp thu mua, chế bién và xuất khẩu cà phê nhân. Thực hiện các hoạt động nhằm tạo ra gia tri gia tang nhu lam sach bui, vo ca phe; say khô; tach đá và loại bỏ tap chất; phân loại kích cỡ, tỉ trọng; đánh bóng ướt, tach màu; đóng bao, khử trùng va xuất khẩu theo hợp đồng.