Chương 1 : Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài. - Chương 2 : Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này giới thiệu cơ sở lý thuyết và các công trình nghiên cứu đã có trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu này. Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu. - Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu, thực hiện phát triển và điều chỉnh thang đo, thiết kế mẫu, thiết kế bảng câu hỏi, thu thập dữ liệu định lượng.
- Chương 4 : Kết quả nghiên cứu 123doc 4 Chương này trình bày, đánh giá và bàn luận các kết quả thu được : mô tả dữ liệu thu được, tiến hành đánh giá kiểm định thang đo, kiểm định sự phù hợp của mô hình, kiểm định giả thuyết của mô hình nghiên cứu. - Chương 5 : Hàm ý chính sách về giải pháp Chương này đưa ra những hàm ý chính sách về giải pháp, đồng thời nêu lên những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này gồm ba phần chính: (1) Khái quát về dịch vụ mobile banking và công nghệ được sử dụng trong dịch vụ mobile banking.
(2) Trình bày về một số lý thuyết và nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến các yếu tố về nhận thức và ý định sử dụng dịch vụ mobile banking. (3) Đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết về các yếu tố nhận thức tác động đến ý định sử dụng dịch vụ mobile banking. Dịch vụ mobile banking Mobile banking được định nghĩa là “một kênh mà người tiêu dùng tương tác với ngân hàng thông qua một thiết bị di động, chẳng hạn như điện thoại di động hoặc máy kỹ thuật số cá nhân. Với ý nghĩa là nó có thể được xem như là một tập hợp con của ngân hàng điện tử và một phần mở rộng của internet banking với đặc điểm độc đáo riêng của mình " (Laukkanen và Passanen, 2008, p.
Ngày nay, dịch vụ mobile baking đang phát triển như là một kênh bán lẻ mới cho các ngân hàng. Dịch vụ mobile banking hướng đến các khách hàng cá nhân có sử dụng các thiết bị di động, khách hàng có thể sử dụng các dịch vụ ngân hàng như chuyển tiền, xem sao kê tài khoản, thanh toán hóa đơn ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào một cách nhanh chóng mà không cần phải đến ngân hàng. Theo một nghiên cứu mới đây của Juniper Research, số lượng khách hàng sử dụng Mobile Banking trên thế giới đang liên tục tăng trong vài năm trở lại đây và dần trở thành một xu thế tất yếu. Tính đến hết năm 2011, tổng số người sử dụng Mobile Banking đã vượt 300 triệu.
Con số này sẽ tăng lên 530 triệu vào năm 2013 và tiếp tục là 860 triệu vào năm 2016. Còn theo khảo sát của Edgar Dunn, công ty tư vấn chiến lược chuyên về lĩnh vực thanh toán và dịch vụ tài chính thì điện thoại 123doc 6 di động cũng được đánh giá là kênh thanh toán phát triển nhất tại các quốc gia trên thế giới trong vòng 5 năm tới (Smartlink, 2013). Theo thông cáo báo chí của Nielsen (2012), người tiêu dùng khu vực Châu Á Thái Bình Dương ưa thích sự tiện lợi của ngân hàng trực tuyến và ngân hàng qua điện thoại (mobile banking) để giao dịch đầu tư. Dịch vụ ngân hàng trực tuyến được sử dụng thường xuyên nhất (79%), sau đó là giao dịch tại ngân hàng (73%) trong khi giao dịch qua môi giới trực tuyến (28%) và điện thoại (36%) cũng khá phổ biến.
Với sự phát triển của các thiết bị di động, đặc biệt là điện thoại thông minh tại tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, các nhà đầu tư có thêm một công cụ đắc lực để thực hiện giao dịch và nắm bắt nhiều cơ hội nhanh chóng. Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại đang phát triển nhanh cộng thêm khả năng tính bảo mật ngày càng chặt sẽ khiến dịch vụ này có khả năng bùng phát mạnh trong tương lai. Từ trước năm 2011, dịch vụ mobile banking còn khá mới mẻ ở Việt Nam, số lượng ngân hàng triển khai rất hạn chế với các tính năng dịch vụ còn đơn giản, chủ yếu là xem số dư tài khoản và chuyển tiền trong nội bộ ngân hàng. Tuy nhiên từ năm 2011 trở đi, nhận thấy tiềm năng và lợi ích của kênh giao dịch mới nên rất nhiều ngân hàng đã bắt đầu tham gia triển khai dịch vụ này.
Công nghệ mobile banking Ban đầu mobile banking dựa trên nền tảng dịch vụ tin nhắn thông thường (SMS - Short Message Service) cho phép khách hàng giao tiếp với ngân hàng theo những tin nhắn, câu lệnh có cú pháp dạng văn bản được ngân hàng quy định trước. Ngày nay, với sự phát triển của internet, công nghệ di động (GPRS, Wi-Fi, 3G, 4G…) và đặc biệt là sự phát triển của ngành công nghiệp điện thoại di động, mobile banking đã có những bước nhảy vọt, gắn liền với sự ra đời của điện thoại thông minh (smartphone). Nhiều ứng dụng công nghệ mới đã được áp dụng cho việc phát triển mobile banking như: SimToolKit (ứng dụng dịch vụ ngân hàng di động được tích hợp trên SIM điện thoại di động), Mobile Application (ứng dụng dịch vụ ngân hàng di động được cài đặt trên điện thoại di động), Mobile Web (dịch 123doc 7 vụ ngân hàng di động được truy cập qua trình duyệt Internet trên điện thoại di động),… Mỗi giải pháp công nghệ đều có những ưu nhược điểm riêng. Tuy nhiên công nghệ Mobile Application được đánh giá toàn diện hơn cả do tính tiện lợi, bảo mật, an toàn, đa dạng tính năng, dễ cập nhật, dễ triển khai, thân thiện với người dùng trong cả quá trình cài đặt và sử dụng… Công nghệ này đang được xem là một trong những lựa chọn hàng đầu của hầu hết các ngân hàng trên thế giới cho việc phát triển Mobile Banking như Citibank, Bank of America, Barclays … 2.
Các công trình nghiên cứu có liên quan 2. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Nửa cuối của thế kỷ hai mươi, đã có rất nhiều nghiên cứu về ý định hành vi của người tiêu dùng như lý thuyết hành động hợp lý (TRA – Theory of Reasonel Action) của Fishbein & Ajzen (1975), lý thuyết về hành vi dự định (TPB – Theory of Planned Behavior) của Ajzen (1985, theo Ajzen, 1991) và mô hình chấp nhận công nghệ (TAM – Technology Acceptance Model) của Davis (1986). Các lý thuyết này đã được sử dụng rộng rãi để đánh giá hành vi của người tiêu dùng, đặc biệt là mô hình TAM. TAM đã được thử nghiệm rộng rãi và được xác nhận là rất hữu ích trong việc giải thích hành vi chấp nhận công nghệ của người sử dụng.
“Mục tiêu của TAM là cung cấp một sự giải thích các yếu tố xác định tổng quát về sự chấp nhận máy tính, những yếu tố này có khả năng giải thích hành vi người sử dụng xuyên suốt các loại công nghệ” (Davis và cộng sự, 1989, p. TAM đã chỉ ra rằng có hai yếu tố có liên quan chính đến hành vi chấp nhận máy tính là nhận thức tính hữu ích và nhận thức tính dễ sử dụng (xem hình 2. 123doc 8 Nguồn: Davis và cộng sự, 1989 Hình 2. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm sau khi mô hình TAM đầu tiên được công bố, TAM đã được tiếp tục nghiên cứu mở rộng thành TAM2 bởi Venkatesh & Davis (2000) và TAM3 bởi Venkatesh & Bala (2008), khi đó yếu tố thái độ đã được bỏ ra khỏi mô hình (Xem hình 2.
Nguồn: Venkatesh & Davis, 2000; Venkatesh & Bala, 2008 Hình 2. Mô hình chấp nhận công nghệ hiệu chỉnh Định nghĩa các yếu tố tác động đến ý định sử dụng trong mô hình TAM: 123doc 9 - Nhận thức tính hữu ích được định nghĩa là “mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống đặc biệt sẽ nâng cao hiệu suất công việc của mình” (Davis, 1989, p. - Nhận thức tính dễ sử dụng được định nghĩa là “mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống đặc biệt sẽ không cần phải nỗ lực” (Davis, 1989, p. Lý thuyết về phổ biến sự đổi mới (IDT) Lý thuyết về phổ biến sự đổi mới (IDT – Innovation Diffusion Theory) được đưa ra bởi Rogers (1995).
Trong IDT, Rogers (1995) định nghĩa phổ biến là quá trình mà sự đổi mới hoặc nhận thức công nghệ mới được truyền đạt thông qua các kênh nhất định theo thời gian giữa các thành viên của một hệ thống xã hội. Sự đổi mới là “một ý tưởng, một hành động thực tiễn hay một vấn đề được nhận thức là mới đối với một cá nhân hay một nhóm người” (Roger, 1995, p. Theo Roger (1995), phản ứng của một cá nhân đối với sự đổi mới phụ thuộc vào nhận thức về tính chất mới lạ của ý tưởng và cho dù cá nhân đó có nghĩ rằng ý tưởng là mới lạ hay không thì ý tưởng đó cũng phải là sự đổi mới. Một cá nhân bày tỏ tính chất mới lạ của một sự đổi mới như là kiến thức, sự thuyết phục hoặc quyết định sẽ chấp nhận.
Phần lớn ý tưởng mới có liên quan đến những đổi mới về công nghệ, nên đôi khi từ “công nghệ” được sử dụng như một từ đồng nghĩa với “sự đổi mới” (Roger, 1995). Rogers (1995) đề xuất và xác định năm đặc tính của sự đổi mới như sau: - Lợi thế tương đối: “là mức độ mà một sự đổi mới được nhận thức là tốt hơn so với ý tưởng nó thay thế” (Roger, 1995, p. - Khả năng tương thích: “là mức độ mà một sự đổi mới được nhận thức là phù hợp với các giá trị hiện có, kinh nghiệm quá khứ, và nhu cầu của người chấp nhận tiềm năng” (Roger, 1995, p. - Phức tạp: “là mức độ mà một sự đổi mới được nhận thức là khó khăn để hiểu và sử dụng” (Roger, 1995, p.
123doc 10 - Có khả năng áp dụng thử: “là mức độ mà một sự đổi mới có thể được thử nghiệm một cách hạn chế” (Roger, 1995, p. - Có thể nhận biết: “là mức độ mà các kết quả của một sự đổi mới có thể nhìn thấy bởi những người khác” (Roger, 1995, p. Theo Roger (1995) thì đặc tính lợi thế tương đối, khả năng tương thích, có khả năng áp dụng thử, có thể nhận biết tương quan thuận với tốc độ chấp nhận sự đổi mới, còn đặc tính phức tạp thì tương quan nghịch với tốc độ chấp nhận sự đổi mới.