Đặt vấn đề Hiện nay sự suy giảm về đa dạng sinh học đang diễn mạnh mẽ, đặc biệt là các loài cây quý hiếm có nhiều giá trị về mặt sinh thái và kinh tế như loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifovila W.Fu, 1975) họ Thông (Pinaceae) còng đang đứng trước nguy cơ đó. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tiếp theo đòi hỏi chúng ta có nhận thức và hành động để đạt sự bền vững, trong đó có nhu cầu nghiên cứu và bảo tồn các loài đặc hữu, quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng và có nhiều giá trị không chỉ về sinh học, sinh thái môi trường, mà còn cho đời sống xã hội, trong đó có loài Thiết sam giả lá ngắn. Rừng là yếu tố cơ bản của môi trường, luôn giữ một vai trò quan trọng không gì thay thế được đối với việc phòng hộ, duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen, cung cấp nhiều loại lâm sản quý phục vụ nhu cầu cuộc sống của hàng triệu đồng bào miền núi… đáp ứng những nhu cầu cơ bản ngày càng cao của con người. Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển, sự gia tăng dân số càng không thể thay thế được trong việc duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường, rừng càng ngày bị thu hẹp về diện tích, giảm sút về chất lượng.
Nguyên nhân chủ yếu của mất rừng là sự can thiệp thiếu hiểu biết của con người, với đời sống khó khăn, nghèo đói thì con người đã tác động vào rừng một cách quá khả năng tự phục hồi của nó. Ngoài ra, còn có những nguyên nhân liên quan tới tính không hợp lý của các kỹ thuật lâm sinh, hoặc những biện pháp về kinh tế xã hội đã làm gia tăng những tác động tiêu cực đến rừng. Ở Việt Nam, trong 50 năm trở lại đây rừng đã bị tàn phá rất nhiều, diện tích rừng hiện nay chỉ còn khoảng 13,8 triệu ha, phần lớn những khu rừng còn lại này tập trung ở những vùng núi cao. Với 2 mọi nỗ lực trồng và bảo vệ rừng năm 2012 tỷ lệ che phủ rừng đạt 40,7%.
Tuy nước ta có nhiều loài động, thực vật và côn trùng rất phong phú và đa dạng nhưng hiện nay tình trạng xâm hại trái phép nguồn tài nguyên rừng đang diễn ra ngày càng phức tạp dẫn đến nhiều loài cây gỗ có giá trị cao hoặc quý hiếm, đặc hữu dần mất đi như Thiết sam giả lá ngắn, Pơ Mu (Fokienia hodginsii), Du sam (Keteleeria evelyniana Master), Bách xanh (Calocedrus macrolepis Kurz ),…và thay vào đó là các loài cây ít giá trị. Đây là mối nguy hại lớn đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn loài Thiết sam giả lá ngắn nói riêng ở đây. Loài Thiết sam giả lá ngắn còn được gọi là Thông núi đá, Súa cứng (Mông) có phân bố ở Trung Quốc (Quý Châu, Quảng Tây) và Việt Nam có ở các tỉnh vùng Đông Bắc như Bắc Kạn (Na Rì), Cao Bằng (Nguyên Bình, Trà Lĩnh, Hạ Lang, Bảo Lạc), Hà Giang (Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc), trong 10 năm trở lại đây, kích thước quần thể suy giảm tới trên 50%, diện tích phân bố hiện < 2000 km2, quần thể bị chia cắt, mọc rải rác trên các đỉnh núi đá vôi ở vùng Đông Bắc, có chỗ mọc gần như thuần loài (Kim Hỉ) (Bộ NN & PTNT, 2010) [3]. Là một trong số 33 loài cây lá kim bản địa ở Việt Nam.
TSGLN là cây có gỗ đẹp và bền, thường mọc trên các đỉnh núi đá vôi có độ cao từ 500 – 1500m so với mặt nước biển. Loài này mang nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị thương mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh quan. Hiện nay vùng phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và một số cá thể trưởng thành của loài bị giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do khai thác gỗ vì mục đích thương mại và xây dựng, làm hàng mỹ nghệ, điều kiện hoàn cảnh sống thay đổi, quần thể bị chia cắt, khả năng tái sinh kém. Vì vậy, loài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Cần phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và hướng tới phát triển nhân rộng loài cây gỗ quý, hiếm ở vùng núi đá vôi. 3 Thiết sam giả lá ngắn được đề nghị là loài bổ sung vào danh lục các loài quý hiếm và nguy cấp theo nghị định 32/NĐ-CP/2006 nghiêm cấm khai thác và sử dụng với mục đích thương mại. Thuộc bậc VU theo sách đỏ Việt Nam 2007 và danh lục đỏ IUCN. Nếu không có những biện pháp bảo vệ và nhân rộng thì loài này sẽ có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Những nghiên cứu về Thiết sam giả lá ngắn trên núi đá vôi ở nước ta còn nhiều hạn chế, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việc sơ bộ mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, những thông tin về khả năng tái sinh ngoài tự nhiên còn rất ít. Để bảo tồn loài quý hiếm này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu về đặc điểm hình thái, sinh thái học và vật hậu. Vì vậy việc nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại của loài Thiết sam giả lá ngắn là điều cần thiết, góp phần giải quyết các các vấn đề đang đặt ra cho bảo tồn một loài quý hiếm, đặc hữu, có giá trị về nhiều mặt nhưng đang đứng trước nguy cơ bị xâm hại và tuyệt chủng. Trước thực trạng đó tôi đó tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975) tại tỉnh Hà Giang”.
Mục đích nghiên cứu Điều tra nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại của loài Thiết sam giả lá ngắn làm cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp quản lý và bảo tồn có hiệu quả. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được một số nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự tồn tại của loài Thiết sam giả lá ngắn tại tỉnh Hà Giang Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh bảo tồn loài Thiết sam giả lá ngắn tại tỉnh Hà Giang. Ý nghĩa của đề tài 1. Trong học tập và nghiên cứu khoa học Qua quá trình thực hiện chuyên đề, sinh viên sẽ được thực hành nghiên cứu khoa học, biết phân bổ thời gian một cách hợp lý và khoa học trong công việc để đạt được kết quả cao trong quá trình làm việc, đồng thời là cơ sở khoa học để nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế, tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường, bổ sung tư liệu cho học tập.
Trong thực tiễn và sản xuất Áp dụng những kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế, góp phần nâng cao hiệu quả việc bảo tồn loài Thiết sam giả lá ngắn. Biết được một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn tại tỉnh Hà Giang. Hạn chế và ngăn ngừa sự suy thoái của loài Thiết sam giả lá ngắn, trên cơ sở đó bước đầu đề xuất được các giải pháp tăng số lượng và chất lượng loài Thiết sam giả lá ngắn. 5 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học Sự tồn tại và phát triển của một loài cây rừng phụ thuộc vào sự ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái tổng hợp, ngoài các nhân tố sinh thái có tính khu vực như khí hậu, đất đai, thì nó còn bị sự ảnh hưởng của các nhân tố tiểu hoàn cảnh rừng như địa hình, ánh sáng dưới tán rừng, nhiệt độ trong rừng, quan hệ tổ thành loài, đai cao, vị trí sống, dinh dưỡng, độ ẩm đất, thực bì, thảm mục…và các nhân tố này lại có mối quan hệ qua lại chặt chẽ, do vậy nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển cây rừng phải dựa trên quan điểm tổng hợp, không tách rời từng nhân tố. Phương pháp tiếp cận vấn đề này của đề tài sẽ dựa vào thu thập số liệu sinh thái tổng hợp liên quan đến phân bố, tái sinh loài trên hiện trường, áp dụng phương pháp kế thừa số liệu của các công trình đã công bố kết hợp với điều tra khảo sát, bố trí thí nghiệm ngoài thực địa, phân tích trong phòng để làm cơ sở nghiên cứu đối tượng Thiết sam giả lá ngắn. Trên thế giới Nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu về sinh thái, đặc biệt là mỗi quan hệ giữa các loài thực vật, các quần thể đối với rừng mưa nhiệt đới, trong đó đáng chú ý là công trình cấu trúc rừng mưa đã mang lại kết quả có giá trị như Baur G.N (1964) [1] đã nghiên cứu các vấn đề sinh thái trong kinh doanh rừng mưa, phục hồi và quản lý rừng mưa nhiệt đới, khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới, tác giả có nhận xét: trong rừng nhiệt đới nếu thiếu ánh sáng thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm thì ảnh hưởng không rõ ràng.P, 1971) [7] đã nghiên cứu các vấn đề 6 sinh thái nói chung và sinh thái trong rừng mưa nhiệt đới làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu sinh thái loài và cấu trúc rừng. Trong chế độ khí hậu có các nhân tố bức xạ mặt trời, nhiệt độ, ẩm độ, không khí.
Việc nghiên cứu các nhân tố đó để làm căn cứ tác động kỹ thuật lâm sinh đó được nhiều tác giả thực hiện. Theo Laslo pancel, 99% năng lượng của trái đất thu nhận được từ mặt trời. Nhà lâm sinh học người Đức Bếch-sơ đã nói: “ ánh sáng là chiếc đòn bẩy mà lâm học điều khiển sự sống của rừng theo hướng có lợi về kinh tế” (Phùng Ngọc Lan và cs, 1992) [6]. Ảnh hưởng của ánh sáng đến quá trình sinh lý ở thực vật đó được các nhà thực vật học nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau.
Oscretcov đã nghiên cứu cường độ quang hợp của lá Thông trong bóng và ngoài ánh sáng ở điều kiện chiếu sáng khác nhau và thu được kết quả sau: ở độ chiếu sang thấp (vào khoảng 1000 đến 2000 lux), cường độ quang hợp lá trong bóng bằng 2 đến 4 lần so với ngoài sáng. Nhưng ở cường độ chiếu sáng cao (2000 đến 4000 lux) thì cường độ quang hợp là ngoài sáng tăng hơn nhiều lần (Nguyễn Minh Đức, 1998) [4].