Chương 1: Tổng quan tài liệu: Về cấu trúc, tính chất của vải than hoạt tính, công nghệ chế tạo vải than hoạt tính. - Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: trình bày phương pháp chuẩn bị mẫu, vật tư, hóa chất, thiết bị, phương pháp chế tạo và phương pháp đánh giá các chỉ tiêu kỹ thuật của vải than hoạt tính. - Chương 3: Kết quả và thảo luận: Trình bày tất cả các kết quả nghiên cứu mà nội dung nghiên cứu đã đạt ra. - Phần kết luận.
- Danh mục các công trình khoa học đã công bố. - Tài liệu tham khảo. Giới thiệu về vải than hoạt tính Vải than hoạt tính (vải carbon hoạt tính) có tính chất và cấu trúc giống như than hoạt tính dạng bột và dạng hạt. Vải than hoạt tính có cấu trúc mao quản đa phân bố (bao gồm: mao quản nhỏ, mao quản trung bình và mao quản lớn), có diện tích bề mặt riêng lớn và chứa nhiều các nhóm chức bề mặt [17], [18], [44].
Vải than hoạt tính có nhiều ưu điểm nổi bật như sau [18], [19], [20], [55]: - Tốc độ hấp phụ cao, dung lượng hấp phụ lớn nên thời gian hấp phụ nhanh và hấp phụ được một lượng chất lớn hơn so với than hoạt tính dạng hạt và dạng bột. Vải than hoạt tính có bề mặt riêng lên tới 2.500 m2/g trong khi đó than hoạt tính dạng hạt, dạng bột chỉ cỡ trên dưới 1. Do vậy, vải than hoạt tính có khả năng hấp phụ, lọc độc tốt hơn than hoạt tính dạng hạt và dạng bột. - Độ tro (các hợp chất vô cơ) rất thấp, hầu như không có mặt kim loại nặng: Fe, Mn, Pb.
như than hoạt tính dạng bột, dạng hạt nên được sử dụng trong y tế, trong xử lý nước sinh hoạt, nước ăn uống mà không bị ô nhiễm thứ cấp do chất độc hại có ngay trong chính vật liệu gây ra. - Khối lượng riêng nhỏ hơn nhiều so với than hoạt tính dạng bột, dạng hạt nên giảm được khối lượng các phin lọc, các bộ lọc, các thiết bị lọc. - Trở lực dòng khí và dòng nước đi qua chúng nhỏ hơn so với đi qua lớp than hoạt tính dạng hạt và dạng bột. Khi được sử dụng trong các thiết bị xử lý nước thải và khí thải thì trở lực trong thiết bị sẽ giảm làm tăng hiệu quả xử lý và hiệu quả kinh tế,.
- Than hoạt tính dạng vải còn có một ưu việt đặc biệt mà than hoạt tính dạng bột và dạng hạt không thể có là chúng tồn tại ở dạng tấm như vải thông thường có độ bền cơ lý và độ mềm mại cao nên có thể trực tiếp dùng may quần áo, mũ, găng tay, ủng phòng độc. Ngoài ra có thể gấp, xếp, dán, may để chế tạo 6 các phin lọc có kết cấu hình dạng theo ý muốn mà không phải dùng lớp vỏ định hình bao bên ngoài như khi dùng than hoạt tính dạng hạt và dạng bột.2 Cấu trúc của vải sợi than hoạt tính 1.1 Cấu trúc tinh thể - Từ các kết quả nghiên cứu X - Ray cho thấy: vải than hoạt tính có chứa các vi tinh thể carbon dạng graphite trong cấu trúc sợi và các vi tinh thể này tạo thành các lớp mạng của vật liệu. Trong lớp có các nguyên tử carbon sắp xếp thành hình 6 cạnh giống như mạng tinh thể graphite than chì. Tuy nhiên, so với cấu trúc của mạng tinh thể graphite thì vải than hoạt tính có các lớp vi tinh thể sắp xếp kém trật tự hơn và mật độ các vi tinh thể ít hơn.
Sợi vải than hoạt tính ngoài các nguyên tử carbon sắp xếp trong mạng tinh thể graphite còn có các nguyên tử carbon khác tồn tại ở trạng thái vô định hình [21], [35], [42], [43], [45], [53], [58], [66], [94]. Các vi tinh thể graphite được mô tả trên hình 1.1 Các vi tinh thể graphite - Sự sắp xếp các vi tinh thể bên trong vải sợi than hoạt tính phụ thuộc vào công nghệ chế tạo. Nhiệt độ than hóa (hoặc nhiệt độ graphite hóa) của vải sợi càng cao thì hàm lượng các vi tinh thể graphite càng nhiều và sự sắp xếp của các vi tinh thể có trật tự hơn. Cấu trúc tinh thể của vải sợi quyết định độ bền cơ lý của vải sợi than hoạt tính.
- So sánh sự sắp xếp của các vi tinh thể trong hai loại vải sợi than hoạt tính đã chế tạo ở điều kiện nhiệt độ khác nhau như hình 1.2 Sự sắp xếp của các vi tinh thể trong vải than hoạt tính - Hình 1.2 a là hình ảnh của vải sợi than hoạt tính đã được than hóa ở nhiệt độ cao hơn 950 oC và hình b là của vải sợi than hoạt tính chế tạo ở nhiệt độ thấp hơn 950 oC. Sự sắp xếp các vi tinh thể graphite khá trật tự theo mạng graphite và sự sắp xếp các vi tinh thể trong hình 1.2 b không trật tự. Một số kết quả phân tích X-Ray đã chứng minh rằng vải than hoạt tính chế tạo ở nhiệt độ thấp có cấu trúc vô định hình giống như than hoạt tính dạng hạt và dạng bột nên có độ bền cơ lý không cao [69]. - Vải than hoạt tính gồm có hai dạng: vải dệt và vải không dệt.
Sợi trong vải dệt (sợi lớn) có cấu tạo từ rất nhiều sợi đơn (kích thước của sợi đơn từ 5 - 8 m) được se xoắn lại với nhau. Độ xoắn của sợi càng cao thì độ săn chắc của sợi càng lớn làm tăng độ bền của sợi và sợi lớn được mô tả như hình 1.3 Sợi than hoạt tính Độ xoắn của sợi được đánh giá qua số bước xoắn (số xoắn/1m dài) hoặc khối lượng riêng (g/m). Từ khối lượng riêng gam/1 mét dài có thể đánh giá được kích thước của sợi lớn [10], [11], [12], [70].2 Cấu trúc mao quản Các mao quản trong vải than hoạt tính được chia thành 3 loại: mao quản lớn, mao quản trung bình và mao quản nhỏ (Hình 1. Bề mặt ngoài Bề mặt bên trong Mao quản nhỏ Mao quản lớn Mao quản trung bình Hình 1.
Hệ thống mao quản của vải than hoạt tính Mao quản lớn: Bán kính của mao quản lớn lớn hơn 500 Å và không điền đầy hơi chất bị hấp phụ theo kiểu ngưng tụ mao quản ở áp suất hơi bão hoà. Bề mặt của mao quản lớn có dung lượng hấp phụ tương đương dung lượng hấp phụ của than không mao quản có cùng bản chất hoá học. Thể tích của mao quản lớn khoảng 0,2 - 0,8 cm3/g với bề mặt riêng 0,5 - 2 m2/g. Bán kính tương đương lớn nhất của đường phân bố kích thước mao quản được đo bằng phương pháp nén thủy ngân là 5.
Sự hấp phụ trên bề mặt mao quản lớn không có ý nghĩa vì bề mặt riêng nhỏ. Mao quản lớn đóng vai trò là kênh vận chuyển chất bị hấp phụ vào sâu bên trong hệ thống mao quản [3], [13], [15], [80]. Mao quản trung bình: Bán kính cong của mao quản trung bình trong khoảng từ 20 đến 500 Å. Trong mao quản trung bình có sự điền đầy thể tích của các phân tử có kích thước trung bình (Benzen, nitơ) theo kiểu ngưng tụ mao quản.
Áp suất hơi của chất hấp phụ trên bề mặt ngưng tụ thấp do có sự hình thành mặt cong chất lỏng bị hấp phụ [3], [13], [15], [79], [80]. Phần lớn vải than hoạt tính để hấp phụ hơi khí độc thông thường có thể tích mao quản trung bình thấp (0,02 - 0,1 cm3/g) với bề mặt riêng 20 - 70 m2/g. Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt (vải than hoạt tính dùng lọc nước hoặc tẩy 9 mầu) có thể tích mao quản trung bình lên tới 0,7 cm3/g và bề mặt riêng 200 - 400 m2/g. Tuỳ thuộc vào độ lớn bề mặt riêng mà mao quản trung bình có thể đóng vai trò hấp phụ hơi trong vùng nồng độ cao cũng như các chất mầu có kích thước phân tử lớn từ dung dịch.
Mao quản nhỏ: có bán kính dưới 20 Å tương đương với kích thước phân tử chất bị hấp phụ. Sự hấp phụ trong mao quản nhỏ diễn ra theo cơ chế lấp đầy thể tích không gian của mao quản. Theo thuyết lấp đầy thể tích thì trường hấp phụ tồn tại trong tất cả thể tích mao quản nhỏ. Thể tích mao quản nhỏ từ 0,20 - 0,60 cm3/g và mao quản nhỏ đóng vai trò quan trọng trong quá trình hấp phụ.
Trường hợp đặc biệt (vải than hoạt tính dùng lọc nước hoặc tẩy mầu) thì sự hấp phụ xảy ra chủ yếu trên bề mặt mao quản trung bình và mao quản lớn [24], [80]. Tác giả Abudureyimu [21] đã mô tả về cấu trúc mao quản của loại vải than hoạt tính nhiều mao quản nhỏ đặc biệt như trong hình 1.5 Hệ thống mao quản của vải sợi than hoạt tính đặc biệt Theo tác giả Abudureyimu thì trong cấu trúc mao quản của sợi vải than hoạt tính có rất nhiều mao quản nhỏ, diện tích bề mặt của mao quản nhỏ trong vải sợi than hoạt tính là chủ yếu. Diện tích bề mặt của mao quản lớn và mao quản trung bình rất nhỏ [21], [27], [62]. Vải than hoạt tính có nhiều dạng mao quản, với sự phân bố kích thước các mao quản là đa phân tán.
Sự phân bố kích thước mao quản của vải sợi than hoạt tính được mô tả theo sơ đồ hình 1. Đường vi phân thể tích mao quan theo bán kính Đường cong phân bố kích thước mao quản của vải than hoạt tính có ba cực đại hẹp, đặc trưng cho ba dạng kích thước mao quản khác nhau [13], [99].3 Cấu trúc các nhóm chức bề mặt Trên bề mặt vải than hoạt tính luôn có một lượng oxi liên kết hóa học với nguyên tử carbon tạo thành hợp chất oxit bề mặt. Hàm lượng oxi trên bề mặt than hoạt tính chiếm 1 - 2% [21], [35], [64], [65], [92]. Tùy theo phương pháp điều chế than hoạt tính mà lượng oxi tham gia hợp chất bề mặt có thể thay đổi.
Theo Dubinin và Serpinski [107], [108] khi hàm lượng oxi khoảng 2 - 3% thì phần được phủ bởi lớp đơn nguyên tử oxi chiếm 4 % diện tích bề mặt than hoạt tính. Hàm lượng oxi cực đại có thể lên tới 15 - 20 % và phần diện tích bao phủ đơn lớp oxi khi đó lên tới 19 - 20 %. Số lượng các oxit trên bề mặt của vải than hoạt tính (sản phẩm của phản ứng hóa học) được xác định bằng phương pháp nhiệt trọng lượng khi hấp phụ oxi, hấp phụ các chất điện ly và hàng loạt kết quả khác. Hợp chất của oxi với carbon rất bền nên khi giải hấp phụ không thấy có mặt oxi mà chỉ có CO trong pha khí.