Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay (qua một số trường hợp tiêu biểu)" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hưởng. Đề tài thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ lý luận văn học và phê bình nữ quyền học thuật.

Trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới và hội nhập quốc tế từ năm 1986, đời sống văn hóa, tư tưởng xã hội có sự cởi mở, tạo điều kiện cho sự xuất hiện và khẳng định tiếng nói của đội ngũ tác giả nữ. Thơ ca giai đoạn này chứng kiến sự bộc lộ trực diện của ý thức nữ quyền với nhiều phương diện: quan niệm về vị trí của người phụ nữ, bản thể nữ, nhu cầu giải phóng bản năng, khát vọng tình yêu, thiên chức làm mẹ, cũng như bi kịch nhận thức về nỗi buồn và sự cô đơn. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực trạng: các bài viết trước đây về thơ trẻ và ý thức nữ quyền chủ yếu dừng lại ở một vài khía cạnh nội dung, nghệ thuật mang tính đơn lẻ, cục bộ; các ý kiến đánh giá còn nhiều tranh luận khen chê trái chiều, mang tính cảm tính và chưa có công trình khảo sát hệ thống trên diện rộng về ý thức nữ quyền qua các trường hợp tiêu biểu. Do đó, luận án được thực hiện nhằm mang lại cái nhìn khách quan, khoa học về diện mạo thơ nữ đương đại.

Mục đích nghiên cứu của công trình là làm rõ các vấn đề lý thuyết về nữ quyền, sự tiếp nhận ý thức nữ quyền phương Tây vào đời sống văn học Việt Nam; phân tích cách thức các tác giả thơ nữ từ năm 1986 đến nay tiếp nhận và thể hiện ý thức nữ quyền trên cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật, từ đó phác họa diện mạo một hệ hình thơ ca nữ đương đại. Để đạt mục đích này, đề tài xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Giới thiệu tổng quan về vấn đề nữ quyền, nữ quyền luận phương Tây và sự du nhập của lý thuyết này vào văn học Việt Nam đương đại;
  2. Khái lược về nữ quyền và sự thể hiện ý thức nữ quyền trong văn xuôi và thơ Việt Nam;
  3. Khảo sát sự thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn trước năm 1986;
  4. Phân tích các cấp độ thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay;
  5. Chỉ ra một số phương thức nghệ thuật thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là ý thức nữ quyền trong sáng tác của 10 tác giả thơ nữ tiêu biểu, gồm: Dư Thị Hoàn (sinh năm 1946), Phạm Thị Ngọc Liên (sinh năm 1952), Tuyết Nga (sinh năm 1960), Đinh Thị Như Thúy (sinh năm 1965), Lê Ngân Hằng (sinh năm 1971), Phan Huyền Thư (sinh năm 1972), Ly Hoàng Ly (sinh năm 1975), Bình Nguyên Trang (sinh năm 1977), Vi Thùy Linh (sinh năm 1980) và Trương Quế Chi (sinh năm 1987). Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian tập trung vào các sáng tác từ mốc Đổi mới năm 1986 đến những năm đầu thế kỷ XXI; phạm vi không gian khảo sát là đời sống văn học Việt Nam trong sự vận động tiếp biến văn hóa.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại lịch sử nghiên cứu thành hai nhóm chính:

Nhóm thứ nhất: Các ý kiến bàn về ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam. Quá trình này được điểm lại qua các giai đoạn lịch sử cụ thể:

  • Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến trước năm 1945: Đánh dấu sự xuất hiện của các bài viết về văn học "nữ lưu" trên báo chí. Tiêu biểu là Phan Khôi với các bài viết trên báo Phụ nữ tân văn như "Về văn học của phụ nữ Việt Nam", "Văn học với nữ tánh", "Lại nói về vấn đề văn học với nữ tánh"; Manh Manh nữ sĩ (Nguyễn Thị Kiêm) với bài "Nữ lưu và văn học" (Phụ nữ tân văn, số 131, ngày 26/5/1932); cùng các bài viết của Vân Hương nữ sĩ, Nguyễn Thị Hồng Đăng, Lệ Hương, Lê Thị Huỳnh Lan, Đạm Phương nữ sĩ, Phan Thị Bạch Vân (Nữ lưu thơ quán).
  • Giai đoạn từ 1945 đến 1975: Ở miền Bắc, do yêu cầu phục vụ kháng chiến, văn học mang âm hưởng sử thi và cảm hứng lãng mạn, ý thức giới đồng nhất với ý thức công dân. Ở miền Nam, nghiên cứu nữ quyền còn mờ nhạt dù có sự tiếp nhận lý thuyết phương Tây.
  • Giai đoạn từ sau 1986 đến 1998: Vấn đề được khơi gợi lại qua công trình Văn học miền Nam tổng quan (1988) của Võ Phiến (bàn về lối viết nữ); bài viết "Nhìn nhận lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn" (1990) của Trương Chính; cuộc trao đổi trên Tạp chí Văn học số 6/1996 của Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Phạm Xuân Nguyên, Đặng Anh Đào; bài viết "Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ" (1996) và chuyên luận Lý luận văn học hậu hiện đại của Phương Lựu. Năm 1996, tác phẩm Giới thứ hai của Simone de Beauvoir được dịch và xuất bản tại Việt Nam.
  • Giai đoạn từ 1999 đến 2006: Giai đoạn bùng nổ diễn ngôn với chuyên đề "Tình yêu, tình dục và phái tính trong văn học" trên trang mạng talawas, gồm các tiểu luận của Nguyễn Hưng Quốc ("Nữ quyền luận", "Nữ quyền và đồng tính luận", "Chuyện hiếp dâm và vấn đề phái tính trong văn học Việt Nam"), Châm Khanh ("Phụ nữ và văn chương"), Hoàng Ngọc Tuấn ("Dục tính trong văn chương và vấn đề đạo đức"), Nguyễn Hoàng Đức ("Dục tính: chân móng hay đỉnh tháp văn chương"), Nguyễn Hữu Lê ("Tính dục trong văn học Việt Nam dưới cách nhìn của đạo lí hồn nhiên và của đạo lý học thuyết").
  • Giai đoạn từ 2006 đến nay: Tác giả đồng tình với phân loại của Nguyễn Thị Thanh Xuân (luận án Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại), chia thành ba khuynh hướng: (1) Nghiên cứu thiên về dục tính/sex (Nguyễn Huy Thiệp với bài "Tính dục trong văn học hôm nay", Nguyễn Vy Khanh với bài "Tản mạn về dục tính và nữ quyền"); (2) Nghiên cứu thiên về nữ tính/thiên tính nữ (Nguyễn Thị Bình với bài "Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại", John C. Schafer với bài "Những quan niệm đương đại về giới nữ Việt Nam" khi phân tích cuốn tự truyện Lê Vân: Yêu và Sống, Hồ Khánh Vân với bài viết về hiện tượng tự thuật); (3) Nghiên cứu trên bình diện nữ quyền (Nguyễn Đăng Điệp với bài "Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại", cuốn sách Thơ Việt Nam hiện đại - tiến trình và hiện tượng; cùng các bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 8/2013 của Ellen Messer-Davidow, Trần Văn Toàn, Đoàn Ánh Dương; tọa đàm khoa học năm 2012 của Viện Văn học).

Nhóm thứ hai: Các ý kiến bàn về ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay.

  • Khảo sát diện rộng: Các nghiên cứu của Lê Lưu Oanh (Thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 1990), Hoàng Hưng ("Thơ Việt đang chờ phiên đổi gác"), Lê Thành Nghị ("Khi khát vọng cái tôi trữ tình được đánh thức"), Inrasara (chia thơ đương đại thành 5 dòng: thơ cổ truyền, thơ tân hình thức, thơ nữ quyền luận, thơ thị giác, thơ hậu hiện đại), Lưu Khánh Thơ ("Suy nghĩ về thơ hôm nay", "Cách tân nghệ thuật và thơ trẻ đương đại"), Hoàng Vũ Thuật ("Cội nguồn và hành trình của thơ hôm nay"), Trần Hoàng Thiên Kim ("Thơ nữ trẻ đương đại: khẳng định một cái tôi mới", "Nỗi cô đơn trong thơ nữ trẻ đương đại", "Nhận diện thơ nữ trẻ đương đại").
  • Khảo sát trường hợp cụ thể: Tập trung nhiều vào ba tác giả: Phan Huyền Thư (nghiên cứu của Đào Duy Hiệp, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Minh Tâm; phê bình của Nguyễn Sĩ Đại, Chu Thị Thơm, Nguyễn Thanh Sơn qua hai tập thơ Nằm nghiêng và Rỗng ngực); Ly Hoàng Ly (khảo sát biểu tượng bóng đêm của Trần Hoài Anh, Thụy Khuê, Nguyễn Phương Linh); Vi Thùy Linh (bài viết của Phạm Xuân Nguyên, Trần Thiện Khanh, Chu Văn Sơn với khái niệm "đế chế yêu", Nguyễn Thanh Tâm với biểu tượng màu tím, Nguyễn Đăng Điệp qua tập Đồng tử, Lưu Khánh Thơ qua tập Phim đôi - tình tự chậm; và ý kiến phê phán của Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Trọng Bình). Thơ của 7 tác giả còn lại (Dư Thị Hoàn, Tuyết Nga, Phạm Thị Ngọc Liên, Đinh Thị Như Thúy, Lê Ngân Hằng, Bình Nguyên Trang, Trương Quế Chi) chủ yếu mới xuất hiện rải rác ở các bài điểm sách, phỏng vấn.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Khác với các công trình đi trước chỉ tập trung vào văn xuôi hoặc khảo sát vài hiện tượng thơ đơn lẻ, luận án là công trình chuyên biệt, đầu tiên tiến hành nghiên cứu hệ thống về ý thức nữ quyền trong thơ nữ giai đoạn từ 1986 đến nay qua 10 trường hợp tiêu biểu, bao quát cả chiều kích lịch sử tiền đề và các cấp độ nội dung, nghệ thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết bằng việc xác lập và phân định hệ thống khái niệm then chốt:

  • Chủ nghĩa nữ quyền phương Tây (Feminism): Khởi nguồn từ Đại cách mạng Pháp (10/1789) và bản "Tuyên ngôn quyền lợi phụ nữ" năm 1790 của Olympe de Gouges (trong văn bản ghi Olempe de Coarges). Trải qua làn sóng thứ nhất (cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, trọng tâm là quyền đầu phiếu, đạt mốc phụ nữ Pháp có quyền bầu cử năm 1944 và sự ra đời ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3) và làn sóng thứ hai (cuối thập niên 1960 - đầu thập niên 1970, gắn với phái nữ quyền cấp tiến - radical feminism, tổ chức NOW ở Mỹ và Women's Liberation ở Pháp). Luận án chỉ ra đặc thù: phong trào phương Tây mang tính đối kháng nhị nguyên trực diện giữa hai giới; trong khi ở phương Đông và Việt Nam, giải phóng phụ nữ gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc, đấu tranh chung chống hệ tư tưởng phong kiến áp bức, mang tính chất một ý thức xã hội hơn là một hệ tư tưởng độc lập.
  • Các khái niệm công cụ: Phân biệt "Giới - giới tính" (gender - yếu tố sinh học tự nhiên chịu sự quy định của xã hội), "Nữ tính" (tính chất, bản tính đặc trưng của phụ nữ trong ứng xử và chuẩn mực văn hóa), "Phái tính" (tổng hòa giữa tự nhiên, sinh học và đặc điểm xã hội, tính cách của từng giới).
  • Ý thức nữ quyền trong văn học: Luận án định nghĩa đây là tiếng nói của những cây bút nữ thể hiện nhu cầu giãi bày trăn trở, suy tư về hiện thực cuộc sống, bày tỏ quan điểm về vị trí, quyền lợi của giới mình và khát vọng giải phóng ẩn ức tinh thần thầm kín thông qua cảm quan giới và đặc trưng tâm lý nữ; từ đó đề cao vẻ đẹp thể xác, tâm hồn và khẳng định bản sắc riêng của giới nữ. Khái niệm này bao hàm cả ý thức về phái tính.

Về phương pháp luận, luận án tuân thủ 3 nguyên tắc:

  1. Đặt văn học nghệ thuật trong chỉnh thể kiến trúc thượng tầng, xem xét mối quan hệ tác động qua lại với cơ sở kinh tế, các hình thái ý thức xã hội và thiết chế chính trị - xã hội;
  2. Vận dụng linh hoạt lý thuyết nữ quyền phương Tây vào thực tiễn văn học Việt Nam, tránh áp đặt khiên cưỡng;
  3. Nhìn nhận các cấp độ nội dung và phương thức nghệ thuật từ bối cảnh văn hóa, chính trị - xã hội Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được phối hợp sử dụng gồm:

  • Phương pháp thống kê - phân loại: Thống kê, phân loại tác phẩm theo nội dung và nghệ thuật, kết hợp tiêu chí định lượng và định tính nhằm minh chứng cho luận điểm;
  • Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: Tiếp cận chỉnh thể tác phẩm gắn với hoàn cảnh thời đại, trào lưu và phong cách tác giả;
  • Phương pháp so sánh văn học: Đối chiếu việc thể hiện ý thức nữ quyền giữa các tác giả để làm nổi bật cá tính sáng tạo;
  • Phương pháp loại hình học văn học: Chỉ ra những đặc điểm chung của thơ nữ đương đại bên cạnh nét riêng biệt của từng cây bút;
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp kiến thức lịch sử, văn hóa học, ngôn ngữ học, luật học, tâm lý học và xã hội học.

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm: tác phẩm của 10 nhà thơ nữ khảo sát (các tập thơ đã xuất bản); các văn bản pháp luật khẳng định quyền bình đẳng nam nữ (Hiến pháp năm 1946 Điều 9, Hiến pháp 1959, 1980, 1992); tác phẩm thơ văn thời kỳ trung đại và đầu thế kỷ XX; cùng hệ thống bài viết phê bình, tiểu luận học thuật liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và giới thuyết về nữ quyền, ý thức nữ quyền

Chương này triển khai trong 32 trang, tập trung vào hai nội dung cốt lõi:

  • Tổng lược hệ thống tài liệu nghiên cứu về nữ quyền và văn học nữ tại Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay, phân định các giai đoạn vận động và các khuynh hướng tiếp cận (dục tính/sex, nữ tính/thiên tính nữ, bình diện nữ quyền học thuật). Điểm lại các công trình nghiên cứu về thơ nữ sau năm 1986, chỉ ra thực trạng nghiên cứu còn thiếu tính đồng bộ và việc đánh giá một số tác giả (như Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh) còn nhiều tranh luận.
  • Xác lập khung lý thuyết: trình bày lịch sử phong trào nữ quyền phương Tây; phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa phong trào nữ quyền phương Tây với ý thức nữ quyền phương Đông và Việt Nam; chuẩn hóa nội hàm các khái niệm "nữ quyền", "giới", "phái tính", "nữ tính", và đề xuất định nghĩa "ý thức nữ quyền trong văn học".

Chương 2: Ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam trước 1986

Chương 2 có dung lượng 29 trang, khảo cứu tiến trình lịch sử thơ nữ nhằm xác lập tiền đề văn học. Tác giả chỉ ra ý thức nữ quyền giai đoạn này tồn tại dưới 3 dạng thức: ý thức nữ phận (chấp nhận bổn phận, than thở), ý thức nữ tính/phái tính (ca ngợi, phô diễn vẻ đẹp giới), và ý thức nữ quyền tranh đấu (phê phán nam quyền, xác lập giá trị người phụ nữ). Nội dung chương đi qua 4 chặng:

  • Thơ nữ cổ điển: Phân tích ý thức về vẻ đẹp và quyền sống của phụ nữ. Khảo sát hình tượng người phụ nữ trong thơ Ngô Chi Lan qua chùm thơ tứ thời (Hạ từ, Đông từ) và hai bài Thái liên khúc; sự khẳng định vẻ đẹp thân thể và phồn thực mang tính dân gian của Hồ Xuân Hương (Bánh trôi nước, Thiếu nữ ngủ ngày); ý thức về quyền sống, hạnh phúc lứa đôi và tuổi xuân trong bản dịch Chinh phụ ngâm khúc cùng truyện "Người liệt nữ ở An Ấp" (Truyền kỳ tân phả) của Đoàn Thị Điểm; nỗi đau cô đơn, mất mát hạnh phúc trong khúc ngâm Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân.
  • Thơ nữ đầu thế kỷ XX: Tiếng nói khẳng định vai trò của nữ giới trong đời sống xã hội và văn hóa báo chí.
  • Thơ nữ giai đoạn từ 1945 đến 1975: Sự hòa quyện giữa ý thức giới và ý thức công dân trong hoàn cảnh chiến tranh cách mạng.
  • Thơ nữ từ 1975 đến 1985: Bước chuyển tiếp ban đầu khi ý thức cá nhân và thân phận phụ nữ bắt đầu được đánh thức sau chiến tranh.

Chương 3: Các cấp độ thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay

Với độ dài 47 trang, đây là chương trọng tâm về mặt nội dung tư tưởng của luận án, phân tích các cấp độ vận động của ý thức nữ quyền qua 3 tiểu mục:

  • Hành trình xác lập bản thể nữ: Khảo sát sự thức tỉnh cái tôi cá nhân, nhu cầu khẳng định bản sắc phái tính, tiếng nói giải phóng bản năng và khát khao thiên chức làm mẹ của người phụ nữ trong hoàn cảnh hòa bình và kinh tế mở cửa.
  • Thiết tạo quan niệm mới về người phụ nữ: Phân tích sự dịch chuyển từ hình mẫu phụ nữ cam chịu, thụ động truyền thống sang hình mẫu người phụ nữ chủ động, dám đòi hỏi quyền được yêu, quyền đối thoại bình đẳng và thụ hưởng hạnh phúc.
  • Bi kịch của sự nhận thức và ý thức phản tỉnh: Phản ánh mặt trái của sự va đập xã hội hiện đại, những hoài nghi, nỗi cô đơn, sự hụt hẫng niềm tin và nỗi đau giằng xé nội tâm khi người phụ nữ nhận thức sâu sắc về giới tính và vị thế xã hội của mình.

Chương 4: Một số phương thức nghệ thuật thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay

Chương 4 triển khai trong 25 trang, tập trung làm rõ các phương diện thi pháp và hình thức biểu hiện:

  • Tổ chức hình ảnh và ngôn ngữ thơ mang tính giải phóng, phá vỡ các cấu trúc khuôn sáo truyền thống;
  • Xây dựng hệ thống biểu tượng thơ đặc thù gắn liền với thân thể, tâm lý và không gian sinh tồn của người phụ nữ (tiêu biểu như biểu tượng đêm, bóng đêm, màu tím);
  • Giọng điệu thơ đa thanh, kết hợp giữa trữ tình tha thiết với sự quyết liệt, đối thoại sòng phẳng và tự vấn.

Nhằm cụ thể hóa các luận điểm, tác giả thiết lập hệ thống bảng số liệu khảo sát trong các chương:

Số hiệu bảng Tên bảng trong luận án Vị trí trang Nội dung khảo sát
Bảng 3.1 Số lượng bài thơ nói về nhu cầu giải phóng bản năng Trang 85 Thống kê số lượng tác phẩm đề cập đến bản năng, tình yêu thể xác và nhu cầu tự do thân thể ở các tác giả khảo sát
Bảng 3.2 Số lượng bài thơ thể hiện khao khát làm Mẹ Chương 3 Thống kê tần suất và số lượng bài thơ diễn đạt khát vọng thiên chức làm mẹ và tình mẫu tử
Bảng 4.x Hệ thống biểu tượng gắn với người phụ nữ Trang 146 Phân loại và định lượng các biểu tượng nghệ thuật đặc trưng (đêm, bóng đêm, màu sắc...) xuất hiện trong thơ nữ

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp khoa học mới trên các phương diện:

  • Về mặt khoa học: Là công trình khoa học đầu tiên đặt ra và nghiên cứu một cách hệ thống về ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ năm 1986 đến nay qua 10 trường hợp điển hình. Làm rõ các vấn đề lý thuyết về giới, nữ quyền và quá trình hình thành ý thức nữ quyền trong thơ nữ truyền thống trước năm 1986. Khảo sát, mô tả và tổng kết toàn diện các cấp độ nội dung tư tưởng cùng phương thức nghệ thuật thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ đương đại.
  • Về mặt lý luận: Khái quát các phương diện quan trọng của lý thuyết nữ quyền phương Tây và xác lập nguyên tắc, phương thức vận dụng linh hoạt lý thuyết này vào nghiên cứu thực tế văn học dân tộc, tránh sự rập khuôn cơ học.
  • Về mặt thực tiễn: Đưa ra các phân tích, nhận định khách quan về giá trị, diện mạo và phong cách của các tác giả thơ nữ tiêu biểu, khắc phục những đánh giá cảm tính, khen chê thiên lệch trước đây. Công trình đồng thời là tài liệu tham khảo cho giới nghiên cứu, phê bình văn học hiện đại.
  • Kiến nghị và bài học kinh nghiệm: Từ việc nghiên cứu đề tài, tác giả khơi gợi những bài học kinh nghiệm nghệ thuật cho thơ trẻ Việt Nam trên con đường tìm kiếm bản sắc và hội nhập với dòng chảy văn học thế giới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ một số giới hạn nghiên cứu xuất phát từ đối tượng và nguồn tư liệu:

  • Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở 10 tác giả nữ tiêu biểu chứ không bao quát toàn bộ lực lượng sáng tác nữ sau năm 1986;
  • Về nguồn văn bản tác phẩm, tác giả chủ động loại trừ tập thơ Sẹo độc lập (2014) của Phan Huyền Thư ra khỏi danh mục khảo sát do tác giả này có vi phạm về bản quyền (đạo văn hai bài thơ Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn và Bạch lộ), dù các thi phẩm trước đó của chị vẫn được đánh giá trên tinh thần khoa học;
  • Mức độ tiếp nhận đối với các tác giả không đồng đều: trong khi Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh thu hút lượng lớn bài viết phê bình, thì 7 tác giả còn lại (Dư Thị Hoàn, Tuyết Nga, Phạm Thị Ngọc Liên, Đinh Thị Như Thúy, Lê Ngân Hằng, Bình Nguyên Trang, Trương Quế Chi) chủ yếu mới được đề cập rải rác ở các bài phỏng vấn, điểm sách ngắn;
  • Đời sống thơ ca đương đại vẫn đang vận động, chưa đạt đến trạng thái ổn định tuyệt đối, do đó việc thẩm định giá trị trọn vẹn cần thêm một độ lùi thời gian nhất định từ giới nghiên cứu và công chúng tiếp nhận.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Văn hóa học khi tìm hiểu về lý thuyết phê bình nữ quyền và sự du nhập của lý thuyết này vào Việt Nam;
  • Giảng viên đại học sử dụng làm tư liệu giảng dạy học phần Văn học Việt Nam hiện đại, Chuyên đề Thơ ca đương đại và Phê bình văn học nữ quyền;
  • Giới phê bình văn học tham khảo phương pháp tiếp cận văn bản đa chiều, kết hợp định tính và định lượng, giúp tránh cái nhìn cực đoan trước những hiện tượng thơ cách tân;
  • Các phần có giá trị tham khảo cao gồm: hệ thống tổng quan tài liệu lịch sử nghiên cứu lý thuyết nữ quyền (Chương 1), phần khảo cứu 3 dạng thức ý thức nữ quyền trong thơ truyền thống (Chương 2), và hệ thống bảng biểu thống kê tần suất chủ đề cùng biểu tượng thơ (Chương 3, Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "ý thức nữ quyền trong văn học" được tác giả định nghĩa như thế nào?
Luận án quan niệm ý thức nữ quyền trong văn học là tiếng nói của các cây bút nữ thể hiện nhu cầu giãi bày trăn trở, suy tư về hiện thực cuộc sống, bày tỏ quan điểm về vị trí, quyền lợi của giới mình và khát vọng giải phóng các ẩn ức tinh thần thầm kín thông qua lăng kính cảm quan giới và tâm lý nữ; qua đó đề cao vẻ đẹp thể xác, tâm hồn và khẳng định bản sắc riêng của giới nữ, bao hàm cả ý thức phái tính.

2. Lý thuyết nữ quyền phương Tây có điểm gì khác biệt so với ý thức nữ quyền ở Việt Nam theo phân tích của luận án?
Nữ quyền phương Tây bắt nguồn từ phong trào chính trị xã hội mang tính đối lập, phản kháng trực diện giữa nữ giới và nam giới nhằm giành quyền bình đẳng pháp lý và xã hội. Ngược lại, ở Việt Nam và phương Đông, ý thức nữ quyền gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc, phụ nữ sát cánh cùng nam giới chống lại các tư tưởng cổ hủ áp bức; phong trào diễn ra kín đáo, thầm lặng dưới dạng ý thức xã hội hơn là một hệ tư tưởng đối kháng.

3. Danh sách 10 nhà thơ nữ được chọn làm đối tượng nghiên cứu của luận án gồm những ai?
Gồm 10 tác giả thuộc nhiều thế hệ: Dư Thị Hoàn (1946), Phạm Thị Ngọc Liên (1952), Tuyết Nga (1960), Đinh Thị Như Thúy (1965), Lê Ngân Hằng (1971), Phan Huyền Thư (1972), Ly Hoàng Ly (1975), Bình Nguyên Trang (1977), Vi Thùy Linh (1980) và Trương Quế Chi (1987).

4. Luận án xử lý như thế nào đối với trường hợp tập thơ "Sẹo độc lập" của tác giả Phan Huyền Thư?
Do tác giả Phan Huyền Thư thừa nhận việc đạo văn trong hai bài thơ (Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn và Bạch lộ), luận án quyết định loại trừ tập thơ Sẹo độc lập ra khỏi danh mục tác phẩm khảo sát. Tuy nhiên, các đóng góp trước đó của Phan Huyền Thư (như tập Nằm nghiêng, Rỗng ngực) đối với ý thức nữ quyền vẫn được ghi nhận và phân tích trong luận án.

5. Trong thơ nữ cổ điển trước 1986, ý thức nữ quyền được thể hiện qua những tác giả và tác phẩm tiêu biểu nào?
Được thể hiện qua: Ngô Chi Lan với hình ảnh người phụ nữ trong Hạ từ, Đông từ và hai bài Thái liên khúc; Hồ Xuân Hương với sự khẳng định vẻ đẹp thân thể và bản lĩnh qua Bánh trôi nước, Thiếu nữ ngủ ngày; Đoàn Thị Điểm với khát vọng hạnh phúc lứa đôi trong bản dịch Chinh phụ ngâm khúc và truyện "Người liệt nữ ở An Ấp" (Truyền kỳ tân phả); Lê Ngọc Hân với nỗi đau mất mát, cô đơn trong khúc ngâm Ai tư vãn.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hưởng là công trình nghiên cứu hệ thống về ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ năm 1986 đến nay qua 10 trường hợp tiêu biểu. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết phê bình nữ quyền với phương pháp phân tích văn bản, loại hình học và thống kê tư liệu, tác giả đã làm rõ các cấp độ nội dung xác lập bản thể nữ cũng như các phương thức nghệ thuật đặc thù của thơ nữ đương đại. Công trình cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị, đóng góp vào việc nhận diện khách quan diện mạo và tiến trình phát triển của thơ ca Việt Nam thời kỳ Đổi mới.