CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu: Nghiên cứu này nhằm khám phá phương pháp dự báo ý định khởi nghiệp cũng như kiểm tra vai trò điều tiết của các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp, cụ thể là giáo dục và nguồn vốn. Chương một, người viết sẽ trình bày sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp và phạm vi tiến hành nghiên cứu, ý nghĩa, đóng góp của nghiên cứu.2 Sự cần thiết của nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về khởi nghiệp Trong lịch sử lý thuyết, có rất nhiều các nghiên cứu về khởi nghiệp như: tinh thần khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp, hành vi khởi nghiệp, các yếu tố tác động đến khởi nghiệp. Từ đó xuất hiện các trường phái khác nhau nghiên cứu về lĩnh vực này.
Ngay từ những năm đầu thế kỷ 19, các nhà nghiên cứu (như Richard Cantillon, 1931; Schumpeter, 1934 hay Ducker, 1985) đã cố gắng giải thích khái niệm về tinh thần doanh nhân (entrepreneurship) và hành vi khởi nghiệp (entrepreneurial behaviour). Bằng cách tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu trong giai đoạn này đã đóng góp những nền tảng lý thuyết rất quan trọng và có công rất lớn khi chỉ ra rằng khởi nghiệp có tầm quan trọng lớn đối với sức khỏe kinh tế nói chung cũng như chỉ ra một số công cụ thực tế và các khía cạnh của khởi nghiệp. Sau đó, Dees và cộng sự (1998), Low và MacMillan hay Kruger (2000) cũng đóng góp đáng kể về khái niệm ban đầu về tinh thần khởi nghiệp. Để giải thích vì sao một người có xu hướng khởi nghiệp trong khi những người khác thì không có, các nhà nghiên cứu tiếp cận từ nhiều cách khác nhau.
Nhiều tác giả (như Kristiansen và Indarti, 2004; Gaddam, 2008; Ramana và cộng sự, 2009; S. Farrington, 2012) theo trường phái nhân khẩu học cho rằng các doanh nhân có cùng một đặc điểm như: giới tính, độ tuổi, vùng miền…. Trong khi đó, trường phái đặc điểm tính cách cá nhân (ví dụ Beugelsdijk, 2007; Jaafar và Abdul-Aziz, 2005; Aldrich 2 và Martinez, 2001; Gartner, 2001; Lee và Peterson, 2000; Lyon, Lumpkin và Dess, 2000; Shane và Venkataraman, 2000; Aldrich và Kenworthy, 1999; Busenitz và Barney, 1997; Lumpkin và Dess, 1996; Gartner, 1988, Carland và cộng sự, 1984; Cole, 1969; McClelland, 1961; McClelland và cộng sự, 1953; Knight, 1921) lại cho rằng doanh nhân có cùng những đặc điểm về tính cách như sự tử tế, nhu cầu thành tích, nhận thức năng lực, chấp nhận rủi ro, đổi mới, phong cách giải quyết vấn đề, tính chấp nhận sự mơ hồ và đề cao giá trị. Vì vậy, họ nỗ lực xây dựng nên một danh mục các đặc điểm doanh nhân để dự báo hiện tượng khởi nghiệp.
Trường phái thứ ba cho rằng quyết định khởi nghiệp xuất phát từ ý định của một cá nhân, do đó, phụ thuộc vào thái độ của người đó về vấn đề khởi nghiệp. Trường phái này tiếp cận theo hướng tâm lý học nhằm dự báo hành vi khởi nghiệp (như Rosenberg và Hovland, 1960; Shaver, 1987; Ajzen, 1991; Shapero và Sokol, 1982; P. Robinson, 1991; Fayolle và DeGeorge 2006; Kolvereid 1996; Krueger và cộng sự, 2000). Cả ba trường phái đều có nhiều đóng góp to lớn vào hệ thống khoa học về khởi nghiệp, tuy nhiên vẫn còn những tranh cãi kéo dài về việc dự báo khởi nghiệp.
Cho đến nay, có rất nhiều nghiên cứu sử dụng mô hình mô hình “Lý thuyết hành vi dự định” của Ajzen (1991), “ Mô hình sự kiện khởi nghiệp” của Shapero và Sokol (1982) để dự báo ý định khởi nghiệp (và sau đó là hành vi khởi nghiệp). Cả hai mô hình này đều có hai thế mạnh: một là, cả hai mô hình đã được kiểm chứng rất nhiều lần và kết quả thống kê cũng hỗ trợ mạnh mẽ cho cả hai mô hình (Krueger Jr và cộng sự, 2000). Hai là, cả hai có ưu điểm là các yếu tố ngoại sinh được kiểm soát trong các khái niệm thái độ, do đó không ảnh hưởng đến ý định (Souitaris và cộng sự, 2007; Tkachev và cộng sự, 1999) Tuy nhiên, cả hai mô hình vẫn tồn tại một số bất cập: thứ nhất, trong mô hình TPB, Ajzen vẫn giữ quan điểm thái độ là một cấu trúc đơn và được biểu hiện qua phản ứng tình cảm đơn lập (Fishbein và Ajzen, 1975). Theo nghĩa này, hành vi kinh doanh là một chức năng của thái độ của một người đến giá trị, lợi ích của khởi nghiệp và chủ yếu được đại diện bởi phản ứng tình cảm đơn lập (Robinson và cộng sự, 1991a; Dömötör và Hader, 2007).
Ngoài ra, TPB là mô hình ban đầu được xây dựng để dự 3 đoán một hành vi nói chung trong tâm lý học và sau đó được áp dụng vào nghiên cứu ý định khởi nghiệp, trong khi ý định khởi nghiệp là một lĩnh vực đặc thù, chỉ diễn ra khi ý định đã được cân nhắc kỹ lưỡng, nghiêm túc. Hơn nữa, trong mô hình TPB, giả định rằng ba thành phần thái độ về hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi cùng xác định ý định thực hiện một hành vi và rằng mỗi yếu tố quyết định này cung cấp nền tảng động lực để hình thành một ý định. Bagozzi (1992) lập luận rằng TPB không mô tả quá trình tạo ra động lực và cách mà các yếu tố dự báo này hoạt động trong sự hình thành ý định hành vi. Do đó các thành phần trong mô hình TPB không kết hợp một thành phần động lực rõ ràng.
Hai là, trong mô hình EEM, ban đầu Shapero và Sokol đã không xem như một mô hình nghiên cứu ý định khi giới thiệu nó vào năm 1982, mặc dù sau đó nó đã được phát hiện và sử dụng trong nghiên cứu ý định khởi nghiệp sau này (Kermit, 2008). Mục tiêu của mô hình là chỉ để cung cấp một lời giải thích cho tiến trình dẫn đến một sự kiện khởi nghiệp, đó là, thời điểm tạo ra một doanh nghiệp mới (Kollmann và Kuckertz, 2006). "Mô hình sự kiện khởi nghiệp chỉ tập trung về vấn đề tạo ra doanh nghiệp mới và không phải về sự diễn tiến hướng tới việc thông qua một hành vi khởi nghiệp nói chung" (Fayolle và cộng sự, 2006). Hơn nữa, mặc dù biến "thiên hướng hành động" trong mô hình các sự kiện khởi nghiệp (EEM) được biết đến như là biến giải thích tại sao một người có năng lực và hoài bão trở thành một người khởi nghiệp, tuy nhiên, Shapero và Sokol đã không đề cập đến biến này một cách rõ ràng trong mô hình ban đầu của họ.
Mô hình thái độ về khởi nghiệp “Entrepreneurial Attitude Orientation” (EAO) của P. Robinson và cộng sự (1991) bao gồm bốn thành phần chính gồm: nhu cầu thành tích (đề cập đến kết quả nhận thức và kết quả của tinh thần khởi nghiệp và thúc đẩy một trách nhiệm khởi động một doanh nghiệp mới); sáng tạo (suy nghĩ trong việc đưa ra những ý tưởng sáng tạo mới, sản phẩm hoặc phương pháp); kiểm soát cá nhân đối với hành vi (phản ánh nhận thức về kiểm soát và ảnh hưởng đến kết quả của các kết quả tạo ra trong kinh doanh); và lòng tự trọng (đề cập đến khả năng tự tin và nhận thức về năng lực kinh doanh của cá nhân kết hợp với công việc kinh doanh của mình). Thế mạnh của mô hình EAO là "có nhiều chiều hướng chi tiết hơn, làm tăng mối 4 tương quan với hành vi thực tế và giảm sự biến thiên không giải thích được" (Harris và Gibson, 2008). Ý định hành vi khởi nghiệp là một chức năng của bốn thành phần của mô hình trong ba khía cạnh thái độ: cảm xúc, nhận thức và ý chí hành vi.
Sự kết hợp của ba chiều này thúc đẩy một người trở thành doanh nhân. Mặt khác, theo cách phản biện của Bagozzi (1992) “TPB không mô tả quá trình tạo ra động lực” thì nhu cầu thành tích của EAO có thể được xem là động lực để hình thành ý định hành vi. Ngoài ra, yếu tố sáng tạo trong mô hình EAO được cho là rất quan trọng và gắn liền với hành vi khởi nghiệp (Hmieleski và Corbett, 2006; Hamidi và cộng sự, 2008; Bowen và cộng sự, 2010), tuy nhiên không hiện diện trong mô hình TPB và EEM. Vì thế, mô hình EAO được cho là “được thiết kế dành riêng và phù hợp hơn cho nghiên cứu khởi nghiệp” (Huefner và cộng sự, 1996).
Mô hình EAO của Robinson đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu để đo lường các quan điểm về tinh thần khởi nghiệp. Robinson cho rằng “chủ đề này là một lĩnh vực hứa hẹn tiềm năng cho các nhà nghiên cứu trong tương lai” (Robinson và cộng sự, 1991). Trên thực tế, đã có những nghiên cứu kiểm định mô hình EAO của Robinson trong thời gian qua: Hoa Kỳ (Gibson và cộng sự, 2008, 2011a, 2011b; Gibson và Gibson, 2010; Harris và Gibson, 2008a; Harris và cộng sự, 2011; Hatten và Ruhland, 1995; Harris và cộng sự, 2007); Hồng Kông (Koh, 1995); Malaysia (Shariff và Saud, 2009; Ismail và cộng sự, 2013; Soomro và Shah, 2015); Singapore (Tan và cộng sự, 1996); Uganda (Byabashaija và Katono, 2011); Carribean (Esnard- flavius, 2010); Trinidad và Tobago (Esnard, 2012); và Nam Phi (Lope Pihie và Bagheri, 2010a, 2010b, 2011a, 2011b). Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần được củng cố và làm rõ: một là, các nghiên cứu sử dụng mô hình EAO để dự báo ý định khởi nghiệp vẫn còn khá hạn chế, nhất là tại những nền kinh tế mới nổi, có hệ sinh thái khởi nghiệp còn non trẻ; hai là, đến nay chưa có bất kỳ nghiên cứu nào kiểm chứng mô hình EAO tại Việt Nam; ba là, kết quả của các nghiên cứu sử dụng mô hình EAO trước đây cũng đem lại những phát hiện thiếu nhất quán.
Chẳng hạn, Wyk và Boshoff (2004) nghiên cứu trên một mẫu ở Nam Phi cho thấy EAO chỉ có ba thành phần thay vì bốn như mô hình gốc. Trong đó hai mục “nhận thức kiểm soát bản thân” 5 về kết quả khởi nghiệp và “nhận thức thành tích” trong khởi nghiệp được tải trên cùng các nhân tố. Hơn nữa, 13 trong số 75 mục ban đầu đã được loại bỏ trong nghiên cứu của Wyk và Boshoff do không thỏa mãn, mặc dù họ đã không cung cấp chi tiết các mục này. Norhazlin Ismail và cộng sự (2013) cũng đã tiến hành một nghiên cứu trên một mẫu gồm 2000 sinh viên sau đại học ở Malyasia cho kết quả chỉ có ba thành phần của EAO là kiểm soát bản thân, sự tự trọng và sáng tạo là có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp mà không có sự góp mặt của nhu cầu thành tích.
Trong khi đó, Wassim J. Aloulou (2015) tìm thấy trong một nghiên cứu tại Saudi Arabia rằng chỉ có nhu cầu thành tích và sáng tạo có mối quan hệ rõ nét đến ý định khởi nghiệp.