ĐẶT VẤN ĐỀ Xung đột môi trƣờng (XĐMT) không còn là một khái niệm mới trên Thế giới và tại Việt Nam đề tài này về XĐMT cũng đã đƣợc nghiên cứu về mặt lý thuyết từ những năm 2000. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu thực tế nhằm đánh giá và khai thác những lợi ích mang lại từ việc đánh giá xung đột môi trƣờng cũng chƣa đƣợc thực hiện nhiều ở nƣớc ta. Cho đến nay khái niệm XĐMT vẫn còn tƣơng đối mới mẻ với các nhà quản lý xã hội và nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam. XĐMT đƣợc hiểu nhƣ các xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội trong quan hệ với môi trƣờng.
Bản chất XĐMT là quan hệ chênh lệch, bất bình đẳng, bất hợp lý, khác biệt giữa các chủ thể môi trƣờng, khó giải tỏa trong cảm nhận, nhận thức và ý thức, có định hƣớng trong hành động của các đại diện chủ thể môi trƣờng trong hoàn cảnh xã hội xác định. Những xung đột này phát sinh từ những hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên bất hợp lý hoặc gây tác động đến môi trƣờng tự nhiên làm ảnh hƣởng tới chất lƣợng môi trƣờng đất, nƣớc, không khí, cảnh quan và cả môi trƣờng xã hội. Từ đó nảy sinh những tranh chấp, mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích hoặc giữa ngƣời đƣợc lợi và bị hại từ những hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên này. XĐMT đƣợc phân chia làm nhiều loại nhƣ xung đột của các quá trình, yếu tố tự nhiên, xung đột giữa tự nhiên với con ngƣời và xung đột giữa các nhóm ngƣời với nhau trong quan hệ với môi trƣờng tự nhiên.
Ngoài ra theo tƣơng quan giữa các XĐMT có thể phân chia thành XĐMT một chiều, XĐMT hai chiều, XĐMT tạm thời, XĐMT lâu dài…XĐMT thƣờng có thời gian tiềm ẩn, âm ỉ, lâu dài và rất dài so với thời gian gây ra xung đột thực sự. Điều cần thiết là phải biết đƣợc cơ sở, nguyên nhân XĐMT nào là chủ yếu có tính quyết định, chi phối quá trình xung đột. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá XĐMT chỉ thực sự có ý nghĩa khi giải quyết các vấn đề lý luận, dự báo các cơ sở, yếu tố và mầm mống gây ra xung đột vì khi XĐMT đã xảy ra thì hậu quả rất khó lƣờng, thiệt hại thƣờng rất lớn và kéo dài. Khi đi sau vào các khía cạnh gây xung đột càng sớm, càng cơ bản và đủ chi tiết thì khả năng dự báo càng rõ ràng, từ đó đề xuất các biện pháp phòng ngừa giảm nhẹ có hiệu quả hơn.
Nghiên cứu giai đoạn tiềm ẩn của XĐMT chính là bắt đầu từ nghiên cứu các đặc điểm, tình hình, mức độ can thiệp vào môi trƣờng của quá trình phát triển KTXH trong hoàn cảnh cụ thể. 1 z Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên, tỉnh lỵ của tỉnh này là thành phố Buôn Mê Thuột nổi tiếng cả nƣớc với café mang hƣơng vị đặc trƣng. Đắk Lắk là một tỉnh giàu tiềm năng du lịch sinh thái với buôn Đôn nổi tiếng với những chú voi to lớn, buôn nằm bên cạnh khu rừng đại ngàn Yok Đôn đầy bí ẩn, ngoài ra còn có vƣờn quốc gia Chƣ Yang Sin, hay cụm thác Dray Nur-Dray Sap tuyệt đẹp… Bên cạnh đó rừng Đắk Lắk có diện tích và trữ lƣợng lớn nhất nƣớc với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm, nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị khoa học. Khoáng sản với trữ lƣợng khác nhau, trong đó một số loại khoáng sản đã đƣợc xác định là sét cao lanh, sét gạch ngói, vàng, phốt pho, than bùn, đá quý có trữ lƣợng không lớn phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh.
Trong quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa việc sử dụng đất tại tỉnh cũng là một vấn đề rất nóng bỏng, dễ dẫn đến phát sinh những XĐMT giữa các nhóm lợi ích hoặc giữa các nhóm đồng bào dân tộc bản địa và di cƣ…Vì vậy, đề tài “Đánh giá xung đột môi trường trong sử dụng đất tại tỉnh Đắk Lắk” đã đƣợc thực hiện. Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu những đặc trƣng của môi trƣờng đất và những tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng đất trên địa phận tỉnh Đắk Lắk. Bên cạnh những nghiên cứu trên đề tài sẽ nhận dạng và đƣa ra những đánh giá, phân tích xung đột môi trƣờng trong việc sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu để từ đó đề xuất các biện pháp giảm thiểu, giải quyết những tranh chấp XĐMT phát sinh, làm tiền đề cho giải pháp phát triển bền vững cho khu vực nghiên cứu. 2 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.
Tổng quan xung đột môi trƣờng trong khai thác sử dụng và quản lý tài nguyên môi trƣờng 1. Cơ sở lý luận về nghiên cứu xung đột môi trƣờng 1. Khái niệm về xung đột môi trường Khái niệm XĐMT đã xuất hiện trên thế giới từ những năm 1990, trong đó có nhiều quan niệm khác nhau đƣợc đƣa ra nhƣ sau: Quan niệm thứ nhất của nhóm nghiên cứu Tonroto do Thomas Homer-Dixon đứng đầu đã công bố năm 1991, cho rằng “XĐMT là những xung đột (XĐ) dữ dội do sự khan hiếm môi trƣờng gây ra trong sự tƣơng tác với nhiều yếu tố có tính chất bối cảnh, tình huống cụ thể. XĐMT xuất hiện qua ba hình thức: Khan hiếm do nhu cầu (nghĩa là sự khan hiếm nảy sinh do nhu cầu gia tăng, chẳng hạn do gia tăng dân số), khan hiếm do nguồn cung (nghĩa là sự khan hiếm gây ra do sự sụt giảm tổng thể những nguồn tài nguyên cụ thể, có sẵn do suy thoái hoặc cạn kiệt), và khan hiếm cấu trúc (nghĩa là sự khan hiếm nảy sinh từ việc phân bố không đồng đều các nguồn tài nguyên hoặc là từ việc tiếp cận đối với các nguồn tài nguyên).
Quan niệm thứ hai của nhóm Bern-Zurich (Switzerland) đứng đầu là Guenter Baechler, cho rằng “XĐMT là XĐ chính trị, xã hội, kinh tế, tôn giáo, lãnh thổ, tộc ngƣời, hoặc là xung đột đối với các nguồn tài nguyên hay là các lợi ích quốc gia hoặc là bất cứ loại XĐ nào. Đó là những XĐ mang tính truyền thống gây ra bởi sự suy thoái môi trƣờng. XĐMT đƣợc đặc trƣng bởi sụ suy thoái môi trƣờng qua một hoặc hơn một trong số các khía cạnh sau: Lạm dụng nguồn tài nguyên có thể tái sinh, hoặc tình trạng căng thẳng của năng lực môi trƣờng trong việc thẩm thấu hay còn gọi là ô nhiễm. Cả hai nguyên nhân này đều dẫn đến sự xuống cấp của không gian sống“.
[11] Quan niệm thứ ba của E.Crowfoot, Julia Marie Wondoleck coi “Xung đột môi trƣờng là một dạng của xung đột xã hội, nó chính là những khác biệt, sự đối lập cơ bản và liên tục thậm chí là những sự áp đặt giữa các nhóm khác nhau trong xã hội về giá trị, quan điểm và hành vi của họ đối với môi trƣờng tự nhiên. Các dạng xung đột nhƣ vậy thƣờng có quy mô lớn và xuất hiện một phần do sự gia tăng không kiểm soát đƣợc của dân số, sự thay đổi của công nghệ, sự thay đổi cơ cấu xã hội, các chuẩn mực xã 3 z hội. Trong quá trình xung đột môi trƣờng tất yếu sẽ nảy sinh các tranh chấp về các vấn đề cụ thể, đó là những mâu thuẫn công khai, không tiềm ẩn, dễ phát hiện.đó chính là những Tranh chấp môi trƣờng“ Ngoài ra còn nhiều tác giả đƣa ra những quan niệm khác về XĐMT, cụ thể: Viện Khoa học và Công nghệ Châu Á (AIT, 1993) “XĐMT là XĐ quyền lợi của cộng đồng, vị trí nghề nghiệp và ƣu tiên chính trị, là những mâu thuẫn giữa hiện tại và tƣơng lai, giữa bảo tồn và phát triển. XĐMT là kết quả của vi ệc sử dụng tài nguyên do một nhóm ngƣời gây bất lợi cho nhóm khác.
XĐMT là kết quả của việc khai thác quá mức hoặc lạm dụng tài nguyên thiên nhiên“. Theo Vũ Cao Đàm và nhiều nhà nghiên cứu khác định nghĩa về XĐMT đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất xuất phát từ bản chất của XĐMT là XĐ giữa các nhóm xã hội trong quan hệ với môi trƣờng: “XĐMT là sự XĐ về lợi ích trong khai thác và sử dụng tài nguyên môi trƣờng. Sự XĐ về lợi ích có thể là giữa các cộng đồng trong xã hội, giữa các quốc gia.“ Theo Pieter Glasbergen về mặt lịch sử có thể chia cách biểu thị xung đột môi trƣờng thành 3 giai đoạn khác biệt nối tiếp nhau nhƣ sau: - Xung đột môi trƣờng trong giai đoạn thứ nhất là dạng xung đột về quyền lực đơn thuần bắt nguồn từ việc sở hữu những nguồn tài nguyên đƣợc sử dụng để phục phụ lợi ích cá nhân. Những lợi ích này đƣợc duy trì bằng việc kiểm soát và chiếm hữu tài nguyên thiên nhiên.
- Xung đột môi trƣờng ở giai đoạn thứ hai với nội dung chính là kiểm soát chất lƣợng môi trƣờng vật chất trƣớc mắt. XĐMT đã hình thành những tranh chấp môi trƣờng mang tính tách biệt, phát sinh trong phạm vi nhỏ, địa phƣơng. Những tranh chấp này thƣờng xuất phát từ mâu thuẫn lợi ích riêng. Mối quan tâm đến chất lƣợng môi trƣờng đƣợc phát huy nhƣ khuyến khích tổ chức các nguồn lực xã hội bù đắp khi môi trƣờng hiện tại bị đe dọa.
- XĐMT giai đoạn thứ ba liên quan đến việc theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững. Trong giai đoạn thứ 3 này xuất hiện một số dạng tranh chấp môi trƣờng đặc thù nhƣ sau: + Tranh chấp môi trƣờng xuất phát từ việc chuyển đổi ruộng đất ở khu vực nông thôn. + Tranh chấp môi trƣờng cũng xuất hiện trong những khu vực công nghiệp hóa 4 z + Tranh chấp môi trƣờng liên quan đến việc bảo tồn thiên nhiên. Đinh ̣ nghiã về xung đột môi trƣờng Mặc dù có nhiều cách phát biểu khác nhau về XĐMT, nhƣng hầu hết đều thống nhất quan điể m , đó là “mâu thuẫn , tranh chấ p , xung đô ̣t về lợi ích trong khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên“.
Sự xung đô ̣t về lợi ích có thể phát sinh giữa các cộng đồng trong xã hội, giữa các quốc gia,… mà đại diện là các nhóm xã hô ̣i khác nhau. Trên tiế p câ ̣n xã hội học môi trƣờng , có thể định nghĩa XĐMT là xung đột xã hội liên quan đến khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Phân loại xung đột môi trường 1. Các đƣơng sự xung đột Trong XĐMT , luôn phải có các bên liên quan tham gia , tƣ́c là các đƣơng sƣ̣ xung đô ̣t.
Có thể nhận dạng một số quan hệ của các đƣơng sự xung đột nhƣ sau : 1) Không phân chia giới tuyế n : Trong cộng đồng không phân chia nhóm xâm hại và bị xâm hại .