MỞ ĐẦU 1. Đặt van đề Khí thải do nhiên liệu kém chất lượng tạo ra đang là một thách thức lớn cho xã hội. Nhiều nước trên thế giới đang tiên phong trong van dé loại bỏ nhiên liệu cũ, nâng cao tiêu chuẩn cho nhiên liệu đang lưu hành nhằm hạn chế bớt phan nao 6 nhiễm môi trường do khí thải. Tai Việt Nam, Bộ Thuong Mại (nay là Bộ Công Thương) đã có công văn dé nghị ngừng sản xuất xăng A83 từ năm 2006 va Thủ tướng chính phủ cũng đã phê duyệt ngừng sản xuất và lưu thông xăng A83 từ ngày 1/1/2014.
Chúng ta có trữ lượng condensate khá dỗổi dao từ các mỏ dau, khí. Lượng condensate này dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng thêm trong tương lai gần. Như bảng số liệu dưới đây: 14oo__ E€ hoạch khai thác condensate giai đoạn 2010 - 2025 1.000 = 2010 | 2011 | 2012 | 2013 | 2014 | 2015/ 2016 | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 | 2025 Cá Voi, Kim Long, Ac Quy .197 OR6ng Đôi-Rông Đôi Tay -181 | .073 OLan Tay-Lan Do .120 @Su Tử Trang 000 | 000 | 000 | 000 | 000 | 000 | 000 | 000 | 000 | 000 | 000 | 000 | 000 | 000 OBach Hồ .008 Tông cộng 000 | 000 | 001 | 001 | 001 | 001 | 001 | 001 | 001 | 001 | 001 | 001 | 001 | 001 | 001) 001 h1: Kế hoạch khai thắc condensate giai đoạn 2010 — 2025 Nguồn: Ban khai thác dau khí, 2010 Ghi chú: C4 voi, Kim Long, Ác Quỷ thuộc bê Malay-Thô Chu Hai Thạch, Rông Đôi /Rồng Đôi Tây và Lan Tây/ Lan Đỏ thuộc bê Nam Côn Son Su Từ Trắng va Bạch Hồ thuộc bê Gru Long LUẬN VĂN THẠC SĨ December 12, 2013 Tuy đóng góp khá lớn cho nhu cầu nhiên liệu trong nước nhưng công nghệ của những nhà máy chế biến condensate của ta chủ yếu chỉ dừng lại ở mức chưng tách thu hồi naphtha, sau đó pha trộn với các reformate hoặc phụ gia có chỉ số RON cao để san xuất xăng A83. Việc chính phủ không cho lưu hành xăng A83 sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các nha máy chế biến condensate.
Vì nếu những nhà máy này muốn sản xuất được xăng A92 thì phải tăng lượng reformate và phụ gia trong quá trình phối trộn. Điều nay làm chi phí sản xuất sẽ tăng lên đáng kể, đồng thời lợi nhuận của những nhà máy chế biến condensate cũng từ đó mà giảm mạnh. Nếu không giải quyết được công nghệ đầu ra, những nhà máy chế biến condensate vừa và nhỏ tại Việt Nam có thể rơi vào nguy cơ ngừng hoạt động. Khảo sát công nghệ và xúc tác ở những nghiên cứu trước đã cho thấy quá trình tăng RON không sử dụng hydrogen là một công nghệ tiềm năng để giải quyết bài toán đầu ra cho các nhà máy chế biến condensate.
Quy trình vận hành khá đơn giản và chi phí đầu tư thấp, rất phù hợp với những nhà máy condensate vừa và nhỏ tại Việt Nam. Hiện nay chúng ta cũng có dự án đang được triển khai sử dụng công nghệ tăng RON cho naphtha không sử dụng hydrogen, nhà máy chế biến xăng dầu Đại Hùng- công ty CP Dau khí Đông phương tại Cần Thơ. Tuy nhiên, xúc tác vẫn đang là van dé chìa khóa cho sự thành công dự án bởi xúc tác ứng dụng trong công nghệ lại đang chủ yếu được phân phối độc quyên bởi nhà sản xuất Trung Quốc. Vì thế, dé không lãng phí một lượng lớn condensate, đồng thời giúp các nha máy chế biến condensate có thé áp dụng công nghệ một cách chủ động về nguồn xúc tác, dé tài sẽ tập trung vào việc nghiên cứu tổng hợp xúc tác, ứng dụng sản xuất xăng có chỉ số RON cao từ nguồn nguyên liệu naphtha.
Kết quả của đề tài sẽ chỉ ra những hướng đi cơ ban ban dau cho việc tổng hợp va sử dụng xúc tác trong quá trình tăng RON cho naphtha không sử dụng hydrogen. Mục tiêu của đề tài Do lộ trình hạn chế và đi đến chấm dứt sử dụng xăng A83 của thủ tướng chính phủ sắp có hiệu lực vào ngày 1/1/2014, các nhà máy chế biến condensate của chúng ta đang đôi diện với một thử thách rât lớn về công nghệ. Chúng ta cần có một công nghệ mới đê — 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ December 12, 2013 chế biến hiệu quả nguồn condensate déi dao từ các mỏ dau, khí. Các nhà máy này không thể sản xuất xăng A92 từ nguồn condensate theo công nghệ cũ vì sẽ không có hiệu quả kinh tế do phải tăng quá nhiều lượng reformate khi pha chế.
Trong những công nghệ mới, quá trình tang RON cho naphtha không sử dung hydrogen đã cho thấy một tiềm năng to lớn. Công nghệ có điều kiện vận hành không khắt khe, chi phí đầu tư không cao nhưng đạt hiệu quả khá tốt. Nó đặc biệt thích hợp với những mô hình nhà máy vừa và nhỏ tại Việt Nam. Tuy nhiên, xúc tác cho quá trình này vẫn còn khá mới mẻ va được độc quyên cung cấp bởi nhà cung cấp Trung Quốc.
Đây chính là điểm mau chốt, là yếu tô chìa khóa làm cho các nhà máy khó có thể áp dụng rộng rãi công nghệ mới này. Đứng trên quan điểm các phản ứng tăng RON từ nguồn nguyên liệu naphtha, một phân đoạn chứa các cau tử Naphthene, parafin mạch dai, paraffin mạch ngăn thi xúc tác ứng dụng phải có sự kết đồng thời các phản ứng dehydro hoá các naphthene, cracking các mạch paraffin dài, vòng hoá các olefin sinh ra trong quá trình cracking và đặc biệt là phản ứng isome hoá các paraffin mạch ngắn. Chính vì thé, xúc tác cho phán ứng tăng RON cho nguyên liệu naphtha bắt buộc phải phải có hai chức nang, cụ thé là chức năng acid và chức năng kim loại [18]. Dựa vào những nghiên cứu đi trước về những quá trình phản ứng trên chất mang zeolite H-ZSM5 [7-9], zeolite H-ZSM5 có hiệu ứng xúc tác cho phản ứng cracking đồng thời, xúc tác này có khả năng vòng hoá các olefin sinh ra từ quá trình cracking dựa vào các tâm acid Lewis va Bronsted cua vật liệu này.
Nghiên cứu gần đây nhất của Guojun Shi và đồng nghiệp [7] hoặc José Luis Garcia-Gutiérrez va đồng nghiệp [9] cho thấy, hệ xúc tác với sự có mặt của Mo có độ chọn lọc tương đối cao cho phản ứng isome hoá các paraffin mạch ngắn như n-hexane hoặc nay cả methane. Sự có mặt đồng thời của Mo va Cr trên nền H-ZSM5 có hiệu ứng xúc tác cho phản ứng dehydro-vòng hoá methane, độ chọn lựa cho sản phẩm hydro có thé đạt đến 90% [11]. Trong khuôn khổ luận van, chúng ta sé bước đầu nghiên cứu tổng hợp xúc tac trên cơ sở tâm các tâm kim loại Mo và Cr lên chất mang zeolite H-ZSM5. Khảo sát tính chất — 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ December 12, 2013 xúc tác thu được và tiễn hành nghiên cứu thử nghiệm hoạt tính xúc tác trên mô hình thiết bị phản ứng xúc tác tầng cố định với nguyên liệu là n-hexane (một cau tử tiêu biểu của n- parafin mach ngan có trong phân đoạn naphtha) nhằm đánh giá, xác định hàm lượng kim loại tam tối ưu lên chất mang zeolite H-ZSM5.
Bước cuối cùng là chạy hệ thống thử nghiệm xúc tác tối ưu với nguồn nguyên liệu là naphtha, đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ cũng như khối lượng xúc tác lên quá trình phản ứng. LUẬN VĂN THẠC SĨ December 12, 2013 CHƯƠNG 2 TÔNG QUAN LUẬN VĂN THẠC SĨ December 12, 2013 CHƯƠNG 2 : TONG QUAN 2. Tổng quan về nguyên liệu 2. Giới thiệu chung Condensate còn gọi là khí ngưng tụ hay lỏng đồng hành, là dạng trung gian giữa dau và khí có mau vàng rơm.
Trong quá trình khai thác dau va khí, condensate bị lôi cuốn theo khí đồng hành hay khí thiên nhiên, được ngưng tụ va thu hồi sau khi qua các bước xử lý, tách khí băng các phương pháp làm lạnh ngưng tụ. chưng cất nhiệt độ thấp, hấp phụ hay hấp thụ bằng dầu. Thanh phan cơ bản của condensate là các hydrocacbon no có phân tử lượng và ty trọng lớn hơn butane như pentane, hexane, heptane. Ngoài ra còn chứa các hydrocacbon mạch vòng.
các nhân thơm, va một số tạp chất khác. Chất lượng của nó phụ thuộc vào mỏ khai thác, công nghệ và chế độ vận hành của quá trình tách khí. Tình hình trữ lượng và chế biến Trữ lượng dầu và khí của Việt Nam được đánh giá có tiềm năng lớn (0.2 tỷ mỉ dầu, 2100-2800 tỷ m' khí). Nam trong các bể trầm tích: Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay_Thổ Chu, Vùng Tư Chính Vũng Mây, Sông Hồng, Phú Khánh.Năm 2004, sản lượng khai thác dầu khí đạt trên 20 triệu tan dau thô quy đối.
Hiện nay, condensate chủ yếu thu nhận từ hai nhà máy xử lý và chế biến khí Dinh Cố (150000 tan /năm) và Nam Côn Sơn (90000 tan /năm). Năm 2005 đưa mỏ Rồng Đôi vào khai thác với sản lượng condensate đạt 90000 tan /năm. Năm 2008, mỏ Hải Thạch 730000 tân /năm. Như vậy với các mỏ hiện có, sản lượng condensate của chúng ta khá dồi dào phong phú.
Bang 1; Danh sách các loại condensate tai Việt Nam Nguồn Sản lượng (Tấn/năm) Người dùng Nam Côn Sơn 200000 65% sd trong nước, 35% xuất khẩu Bạch Hồ 190000 50% sd trong nước, 50% xuất khâu Rông Đôi 100000 100% sd trong nước (nguôn ASCOPE Trader’ 2009 — PetroVietnam) LUẬN VĂN THẠC SĨ December 12, 2013 Ngoài một lượng nhỏ condensate được sử dụng trong việc sản xuất dung môi dùng trong công nghệ hoá học, condensate Việt Nam được sử dụng chủ yếu cho mục đích sản xuất xăng nhiên liệu như là một cấu tử phối liệu xăng sau khi đã qua quá trình chế biến tại các nhà máy chế biến và phối trộn condensate. Các nhà máy chế biến condensate tại Việt Nam có nhà máy chế biến condensate Cát Lái thuộc Công ty TNHH Dầu khí Tp HCM (Saigon Petro) quản lý, thực hiện cả quá trình chưng cất ra các phân đoạn và phối trộn ra các sản phẩm; nhà máy chế biến Condensate Thị Vải (PVoil); nhà máy chế biến Condensate Nam Việt thuộc Công ty cỗ phân dau tư va vận tải dầu khí Sinpetrol. Các nhà máy chế biến chủ yếu bằng cách phối trộn condensate cùng với xăng có RON cao và phụ gia dé sản xuất xăng A83. 4 Nhà máy chế biến Condensate Cát Lái: [2] Nhà máy chế biến Condensate Cát Lái thuộc Công ty TNHH Dau khí Tp HCM (Saigon Petro) quản lý với công suất chế biến 350000 tan/nam, bao gôm bộ phận lọc dầu (Chung condensate) 350000 tân/năm và tháp mini xử lý cặn (bottom) của Tháp chung condensate công suất 40000 tan/nam dùng nguồn Condensate của Rồng Đôi và Nam Côn Sơn.
Phân xưởng chung Condensate cho ra sản phẩm Naptha 1, Naptha 2,va Bottom.