Luận án tiến sĩ nghiên cứu sử dụng xơ trung tính ndf neutral detergent fibre trong khẩu phần của bò lai hướng thịt black angus charolais và wagyu x lai zebu

Nghiên cứu xơ trung tính NDF trong khẩu phần bò lai Black Angus, Charolais và Wagyu x lai Zebu, tối ưu hóa dinh dưỡng và hiệu suất chăn nuôi.

Trường đại học

Trường Đại Học Cần Thơ

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

163
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

ABSTRACT

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Nội dung nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa của luận án

1.4. Điểm mới của luận án

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ cấu giống bò thịt và các nhóm bò lai hướng thịt trong tổng đàn bò ở Việt Nam

2.2. Cơ cấu giống bò thịt và các nhóm bò lai hướng thịt trong vùng nghiên cứu

2.3. Giống bò thịt cao sản

2.4. Vai trò thức ăn thô nuôi bò thịt

2.5. Chất xơ trong thức ăn gia súc

2.6. Thành phần của xơ trung tính – NDF

2.7. Vai trò NDF trong khẩu phần

2.8. Lên men carbohydrate

2.8.1. Quá trình chuyển hóa carbohydrate thành pyruvate

2.8.2. Chuyển hóa pyruvate thành VFA

2.8.3. Chuyển hóa VFA thành năng lượng

2.8.4. Chuyển hóa pyruvate thành mêtan

2.9. Ảnh hưởng của NDF đến tiêu thụ DM và tiêu hóa

2.9.1. Ảnh hưởng của NDF đến lượng chất khô tiêu thụ

2.9.2. Ảnh hưởng của NDF đến tỷ lệ tiêu hóa NDF

2.10. Mối liên hệ giữa NDF và ME của thức ăn

2.11. Thức ăn bổ sung

2.12. Kết quả nghiên cứu NDF trong khẩu phần ăn của gia súc nhai lại

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Địa điểm và thời gian

3.2. Nội dung nghiên cứu 1: Khảo sát hàm lượng xơ trung tính trong khẩu phần và năng suất của bò đực lai Zebu nuôi lấy thịt tại tỉnh An Giang

3.2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.2. Ðộng vật thí nghiệm

3.2.3. Phương pháp nghiên cứu

3.2.4. Chỉ tiêu theo dõi

3.2.5. Phương pháp phân tích

3.2.6. Phương pháp xử lý số liệu

3.3. Nội dung nghiên cứu 2: Xơ trung tính, cấu trúc, sự thay đổi và ảnh hưởng đến tiêu hóa và sinh khí ở in vitro

3.3.1. Tổng quan về cấu trúc và sự thay đổi vách tế bào thực vật

3.3.2. Thí nghiệm 2A: Ảnh hưởng các nguồn xơ trung tính đến khả năng sinh khí mêtan và khí carbonic trong điều kiện in vitro

3.3.3. Thí nghiệm 2B: Ảnh hưởng các mức xơ trung tính đến khả năng tiêu hóa in vitro chất hữu cơ của khẩu phần bò thịt

3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu

3.4. Nội dung nghiên cứu 3: Ảnh hưởng các mức xơ trung tính trong khẩu phần đến khả năng tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất, môi trường dạ cỏ và tích lũy nitơ của ba nhóm bò lai Black Angus, Charolais và Wagyu

3.4.1. Thí nghiệm 3A: Ảnh hưởng các mức xơ trung tính trong khẩu phần đến khả năng tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất, môi trường dạ cỏ và tích lũy nitơ của bò lai (Black Angus x lai Zebu)

3.4.2. Thí nghiệm 3B: Ảnh hưởng các mức xơ trung tính trong khẩu phần đến khả năng tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất, môi trường dạ cỏ và tích lũy nitơ của bò lai (Charolais x lai Zebu)

3.4.3. Thí nghiệm 3C: Ảnh hưởng các mức xơ trung tính trong khẩu phần đến khả năng tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất, môi trường dạ cỏ và tích lũy nitơ của bò lai (Wagyu x lai Zebu)

3.5. Nội dung nghiên cứu 4: Ảnh hưởng của mức 55% NDF trong khẩu phần đến tăng khối lượng, hệ số chuyển hóa thức ăn và hiệu quả kinh tế của 3 nhóm bò lai Black Angus, Charolais và Wagyu

3.5.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.5.2. Ðộng vật thí nghiệm

3.5.3. Bố trí thí nghiệm

3.5.4. Chỉ tiêu theo dõi

3.5.5. Phương thức nuôi dưỡng

3.5.6. Phương pháp xử lý số liệu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Nội dung nghiên cứu 1: Khảo sát hàm lượng xơ trung tính trong khẩu phần của bò đực lai Zebu nuôi lấy thịt tại tỉnh An Giang

4.1.1. Hiện trạng chăn nuôi bò thịt tỉnh An Giang

4.1.2. Thành phần dưỡng chất các loại thức ăn trong khẩu phần ăn của bò

4.1.3. Tỷ lệ nguyên liệu khẩu phần bò thịt nuôi tại nông hộ

4.1.4. Lượng vật chất khô tiêu thụ của bò tại chuồng nuôi

4.1.5. Lượng dưỡng chất tiêu thụ và mức dưỡng chất khẩu phần bò thịt

4.1.6. Kết luận nghiên cứu 1

4.2. Nội dung nghiên cứu 2: Xơ trung tính, cấu trúc, sự thay đổi và ảnh hưởng đến tiêu hóa và sinh khí ở in vitro

4.2.1. Cấu trúc và sự thay đổi NDF ở thức ăn thô

4.2.2. Thí nghiệm 2A: Ảnh hưởng các nguồn xơ trung tính đến khả năng sinh khí mêtan và khí carbonic trong điều kiện in vitro

4.2.3. Thí nghiệm 2B: Ảnh hưởng các mức xơ trung tính đến khả năng tiêu hóa in vitro chất hữu cơ của khẩu phần bò thịt

4.3. Nội dung nghiên cứu 3: Ảnh hưởng các mức xơ trung tính trong khẩu phần đến khả năng tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất, môi trường dạ cỏ và tích lũy nitơ của ba nhóm bò lai Black Angus, Charolais và Wagyu

4.3.1. Thí nghiệm 3A: Ảnh hưởng các mức xơ trung tính trong khẩu phần đến khả năng tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất, môi trường dạ cỏ và tích lũy nitơ của bò lai (Black Angus x lai Zebu)

4.3.2. Thí nghiệm 3B: Ảnh hưởng các mức xơ trung tính trong khẩu phần đến khả năng tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất, môi trường dạ cỏ và tích lũy nitơ của bò lai (Charolais x lai Zebu)

4.3.3. Thí nghiệm 3C: Ảnh hưởng các mức xơ trung tính trong khẩu phần đến khả năng tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất, môi trường dạ cỏ và tích lũy nitơ của bò lai (Wagyu x lai Zebu)

4.4. Nội dung nghiên cứu 4: Ảnh hưởng của mức 55% NDF trong khẩu phần đến tăng khối lượng, hệ số chuyển hóa thức ăn và hiệu quả kinh tế của 3 nhóm bò lai Black Angus, Charolais và Wagyu

4.4.1. Lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ

4.4.2. Tăng khối lượng và hệ số chuyển hóa thức ăn bò thịt

4.4.3. Phân tích chênh lệch chi thu nuôi bò thịt

4.4.4. Kết luận nội dung nghiên cứu 4

4.4.5. Nhận định kết quả luận án

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Luận án này tập trung vào việc nghiên cứu xơ trung tính (NDF) trong khẩu phần của các giống bò lai thịt như Black Angus, Charolais, và Wagyu x Zebu. Mục tiêu chính là xác định mức NDF phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò thịt. Việc nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh chăn nuôi bò thịt tại Việt Nam, nơi mà nhu cầu về thịt bò ngày càng tăng cao. Các giống bò lai này được chọn lựa vì khả năng thích nghi tốt và chất lượng thịt cao. Nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà chăn nuôi trong việc tối ưu hóa khẩu phần ăn cho bò lai thịt.

II. Khảo sát hàm lượng NDF trong khẩu phần

Nghiên cứu đầu tiên đã khảo sát hàm lượng NDF trong khẩu phần ăn của bò lai tại tỉnh An Giang. Kết quả cho thấy hàm lượng NDF trong khẩu phần từ 49,7% đến 57,9% có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của bò. Cụ thể, bò nuôi ở nông hộ từ 6 đến 36 tháng tuổi có sự hạn chế về khối lượng khi hàm lượng NDF vượt quá mức tối ưu. Điều này cho thấy rằng việc điều chỉnh hàm lượng NDF trong khẩu phần là cần thiết để đảm bảo sự phát triển tối ưu cho bò thịt. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng việc kiểm soát hàm lượng NDF có thể giúp cải thiện năng suất và chất lượng thịt bò.

III. Vai trò của NDF trong tiêu hóa và sinh khí

Nghiên cứu thứ hai tập trung vào vai trò của NDF trong tiêu hóa và sản xuất khí mêtan trong điều kiện in vitro. Kết quả cho thấy rằng cấu trúc NDF của thức ăn thô có tác động lớn đến khả năng tiêu hóa vật chất khô và dưỡng chất ở gia súc nhai lại. Khi tăng mức NDF từ 35% lên 65%, tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ giảm dần, cho thấy rằng mức NDF cao có thể gây cản trở quá trình tiêu hóa. Nghiên cứu này cung cấp thông tin quan trọng về cách mà NDF ảnh hưởng đến môi trường dạ cỏ và sản xuất khí, từ đó giúp các nhà chăn nuôi điều chỉnh khẩu phần ăn cho bò lai thịt một cách hợp lý.

IV. Ảnh hưởng của NDF đến tiêu thụ và tăng trưởng

Nghiên cứu thứ ba đã phân tích ảnh hưởng của các mức NDF khác nhau đến khả năng tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất, và tăng trưởng của ba giống bò lai Black Angus, Charolais, và Wagyu. Kết quả cho thấy rằng khi tăng dần tỷ lệ NDF trong khẩu phần từ 47% đến 59%, tỷ lệ tiêu hóa chất khô và chất hữu cơ có sự giảm dần. Tuy nhiên, giữa nghiệm thức NDF47 và NDF55 không có sự khác biệt đáng kể. Điều này cho thấy rằng mức NDF 55% có thể là mức tối ưu cho sự phát triển của bò lai thịt, đồng thời cũng giúp tối ưu hóa hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.

V. Đánh giá hiệu quả kinh tế

Nghiên cứu cuối cùng đã đánh giá sự tăng khối lượng, tiêu tốn thức ăn và hiệu quả kinh tế của ba giống bò lai với mức NDF 55% trong khẩu phần. Kết quả cho thấy bò lai Charolais có sự tiêu thụ thức ăn và tăng khối lượng tốt hơn so với bò lai Black AngusWagyu. Điều này cho thấy rằng việc lựa chọn giống bò phù hợp kết hợp với mức NDF tối ưu có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người chăn nuôi. Luận án khuyến cáo rằng mức 55% xơ trung tính (NDF) trong khẩu phần là phù hợp cho chăn nuôi bò lai hướng thịt, từ đó nâng cao năng suất và lợi nhuận cho người chăn nuôi.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã Zebu hóa đàn bò địa phương trong thời gian dài, con giống được cải tạo nhằm nâng cao khối lượng và chất lượng thịt. Bò lai Zebu là nhóm kiêm dụng, sinh sản vừa phải và thích nghi tốt với điều kiện nuôi khó khăn như khẩu phần nhiều xơ và protein thấp. Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao đã được chú trọng đầu tư vào chăn nuôi là yếu tố quyết định con lai chất lượng cao. Trong thời gian gần đây, đầu tư nâng cao chất lượng con giống của bò lai Zebu địa phương với tinh bò chuyên thịt như Black Angus, Charolais, Wagyu.

tạo ra bò lai hướng thịt cung cấp cho thị trường chăn nuôi đang diễn ra. Tuy nhiên, sự hạn chế trong phát triển chăn nuôi bò thịt là giống bò chuyên dụng nuôi thịt, chế biến thức ăn theo từng giai đoạn sinh lý, theo nhóm giống và đặc biệt quan trọng vào giai đoạn vỗ béo (Giao, 2018). Bò thịt có thể tận dụng tốt nguồn thức ăn thô, chuyển hóa chất xơ thành năng lượng hữu dụng cho vật chủ bởi sự lên men của hệ vi sinh vật (McDonald et al. Thức ăn nhiều NDF có một lượng lớn cellulose làm cho tốc độ tiêu hóa ở dạ cỏ chậm lại nên lượng chất khô tiêu thụ của bò giảm (Ngoan & Hằng, 2014).

Theo Kodeš et al. (2015), xơ trung tính có vai trò quan trọng trong khẩu phần và cung cấp năng lượng từ thức ăn. Bởi vì, quá trình lên men dạ cỏ phân giải chất xơ tạo ra các axit béo bay hơi trở thành nguồn năng lượng cho bò phát triển. Đối với bò lai F1 (Droughtmaster x Lai Sind) giai đoạn 18-21 tháng tuổi, sử dụng khẩu phần hỗn hợp thức ăn hoàn chỉnh (TMR) có mức NDF tăng từ 18 đến 36% cho kết quả tăng khối lượng giảm từ 1,19 xuống 1,04 kg/con/ngày (Vân và ctv.

Sự gia tăng mức NDF từ 37 đến 66% trong TMR thì tiêu hóa chất khô (DM) giảm dần từ 71,5 xuống 59,4% cho bò lai Sind (Chí, 2015). Theo kết quả của Arelovich et al. Sự gia tăng hàm lượng NDF trong khẩu phần thức ăn làm giảm khả năng tận dụng thức ăn, tỷ lệ tiêu hoá và năng suất của bò thịt (Mô & Thu, 2008a; Cương và ctv. Bên cạnh đó, Cittadini et al.

(2021) kết luận rằng giống và chế độ ăn thích hợp có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng bò thịt. 1 Do sự tăng giá của ngũ cốc nên chăn nuôi bò thịt cần tận dụng nguồn thức ăn thô từ các loại cỏ tự nhiên, cỏ trồng hay các phụ phẩm nông nghiệp như rơm, thân cây bắp. có thể sản xuất tại địa phương nhằm giảm chi phí thức ăn, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và nâng cao thu nhập cho người nuôi bò lai hướng thịt. Từ các nghiên cứu trên cho thấy, mức NDF liên quan đến lượng thức ăn tiêu thụ, dưỡng chất tiêu thụ và tỷ lệ tiêu hóa của bò thịt.

Do đó, nghiên cứu mức NDF trong khẩu phần phù hợp cho bò lai hướng thịt là rất cần thiết để phát triển bền vững nghề chăn nuôi bò thịt.1 Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hàm lượng NDF trong khẩu phần ăn liên quan đến năng suất bò thịt được nuôi trong điều kiện nông hộ tại An Giang. Xác định cấu trúc và ảnh hưởng của nguồn, mức NDF trong khẩu phần lên sự tiêu hóa và sinh khí trong điều kiện in vitro. Xác định hàm lượng NDF thích hợp trong khẩu phần ở điều kiện in vivo đối với các giống bò lai Black Angus, lai Charolais và lai Wagyu. Đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng NDF trong khẩu phần đến tăng khối lượng, hệ số chuyển hóa thức ăn và hiệu quả kinh tế của 3 giống bò lai Black Angus, Charolais và Wagyu.2 Nội dung nghiên cứu: Khảo sát hàm lượng NDF trong khẩu phần và năng suất của bò thịt tại tỉnh An Giang.

Nghiên cứu cấu trúc, nguồn và mức NDF của khẩu phần đến sự sinh khí và tiêu hóa ở in vitro. Nghiên cứu các mức NDF thích hợp trong khẩu phần đến sự tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất, môi trường dạ cỏ và tích lũy nitơ trên bò lai trong điều kiện in vivo. Đánh giá sự tăng khối lượng, tiêu tốn thức ăn và hiệu quả kinh tế của 3 giống bò lai Black Angus, Charolais và Wagyu với mức NDF trong khẩu phần thích hợp.3 Ý nghĩa của luận án: Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là tài liệu tham khảo về cấu trúc và mức NDF hợp lý trong khẩu phần không những ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa dưỡng chất thức ăn mà còn là nguồn cung cấp năng lượng cho bò thịt. Sử 2 dụng các nguồn thức ăn thô sẵn có tại địa phương với mức NDF thích hợp trong khẩu phần để đảm bảo năng suất bò lai hướng thịt và tăng thu nhập của người chăn nuôi.4 Điểm mới của luận án: Xác định và đánh giá được mức NDF trong khẩu phần ảnh hưởng đến năng suất của đàn bò lai Zebu nuôi thịt trong nông hộ tại tỉnh An Giang.

Sự thay đổi cấu trúc NDF của thực vật có tác động tới tiêu hoá dưỡng chất ở gia súc nhai lại và sự khác nhau về nguồn NDF ảnh hưởng đến khí thải CH4 chịu tác động của NFC (carbohydrate không xơ) hoặc NFE (chiết chất không đạm) lớn hơn so với NDF, ADF (xơ axit), CP (đạm thô) và EE (béo thô) theo thứ tự. Tăng mức NDF từ 35 lên 65% đã làm giảm dần tỷ lệ tiêu hóa OM (chất hữu cơ) và NDF trong điều kiện in vitro. Trong khẩu phần nuôi bò lai hướng thịt có mức 55% NDF phù hợp yêu cầu về tiêu hóa dưỡng chất, ổn định môi trường dạ cỏ, tăng khối lượng và hiệu quả kinh tế. 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giống bò thịt Bò thịt đa dạng với nhiều giống và con lai được nuôi trên thế giới nhưng cũng tùy vào điều kiện khí hậu và khối lượng trưởng thành.

Theo Cương (2016), tính trên khối lượng trưởng thành có thể chia thành 4 nhóm giống bò thịt như sau: Nhóm 1: Bò địa phương hay các giống bò lai. Đại diện là giống Red Sindhi, Shahiwal của Ấn độ và Pakistan, nhiều giống bò khác của các nước lân cận nuôi với mục tiêu kim dụng lấy sức kéo, thịt và sữa. Thích nghi rất tốt với khí hậu địa phương, chịu kham khổ và sinh sản vừa phải. Nhóm 2: Bò có khối lượng trung bình, tỷ lệ thịt xẻ khá và không dai.

Đại diện là giống Brahman, DroughtMaster được sản xuất tại Australia và thích nghi tốt với khí hậu nóng ẩm nhiệt đới. Nhóm 3: Bò có khối lượng trưởng thành trung bình, chất lượng thịt ngon và thành thục sinh dục sớm. Đại diện là giống Black Angus, Red Angus, Hereford của Anh và Wagyu của Nhật, thích hợp điều kiện khí hậu ôn đới. Nhóm 4: Bò có khối lượng trưởng thành lớn, tỷ lệ thịt xẻ cao nhưng thành thục sinh dục chậm.

Đại diện là giống Charolais, Limousin của Pháp, Blanc Bleu Belge (BBB) của Bỉ và Pismontesse của Italya, thích hợp với điều kiện khí hậu ôn đới, được sản xuất ở châu Âu.1 Cơ cấu giống bò thịt và các nhóm bò lai hướng thịt trong tổng đàn bò ở Việt Nam Đàn bò Vàng Việt Nam có tầm vóc nhỏ bé, được cải tạo với chương trình Sind hóa thực hiện từ những năm 1960 tạo ra bò lai Sind. Kết quả ghi nhận tỷ lệ bò lai cả nước qua các năm thể hiện tại Bảng 2.1: Tỷ lệ đàn bò lai từ năm 1995 đến 2017. Năm 1995 1998 2005 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 TL% 12,0 25,0 30,0 36,6 41,3 44,0 47,6 52,0 57,0 57,7 63,2 Nguồn: Giao (2018), TL: tỷ lệ. Mục tiêu cải tạo tăng khối lượng bò thịt và tạo đàn bò cái nền làm cơ sở phát triển giống bò.

Do đó, Việt Nam phát triển nhiều hơn các dự án cải tạo hay phát triển đàn bò thịt chất lượng cao thông qua việc nhập tinh đông lạnh 4 và bò đực các giống chuyên thịt diễn ra sau những năm 2000. Theo báo cáo của Giao (2018), tỷ lệ đàn bò lai năm 2017 chiếm 63,2% bao gồm bò lai Zebu (Sind, Sahiwal, Brahman) và bò lai chuyên thịt (Angus, Lymousin, Hereford, Charolais, Drought Master, Senepol, B. Đông Nam Bộ là khu vực có tỷ lệ bò lai cao nhất so với Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên và Miền Núi Phía Bắc, tuy nhiên bò thuần chuyên thịt của các giống nêu trên số lượng không nhiều. Trong những năm gần đây, sự phát triển của bò lai hướng thịt diễn ra mạnh hơn với các chương trình cải tạo giống được ghi nhận một số địa phương.

Chăn nuôi bò thịt vùng Tây Nguyên có sự đa dạng về các nhóm bò lai, trong đó bò lai Sind và lai Brahman là chiếm ưu thế với tỷ lệ 82% ở quy mô lớn (9,19 con/hộ) và 75% ở nhóm quy mô chăn nuôi nhỏ (2,88 con/hộ) trong cơ cấu giống đàn bò thịt. Tỷ lệ hộ chăn nuôi thiếu thức ăn cho bò vào mùa khô là cao, đây là khó khăn lớn trong phát triển bò thịt của vùng Tây Nguyên (Duy và ctv. Hiện trạng chăn nuôi và cơ cấu giống bò thịt tại tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2017-2019 được Quyến và ctv.000 con với tỷ lệ bò lai chiếm 95,4% tổng đàn. Tuy nhiên, bò lai Zebu chiếm tỷ lệ cao nhất (58,5%) trong 6 nhóm bò lai bao gồm: Zebu, Charolais, Angus, Droughtmaster, Belgian Blue Beef (BBB) và Wagyu.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã tiến hành phát triển bò lai hướng thịt với các tên gọi đia phương như bò cọp, là con lai Red Anus với bò cái Zebu tại Bến Tre hoặc bò Pháp kem là nói đến con lai của bò chuyên thịt Charolais… Đối với chăn nuôi bò lai huớng thịt tại Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện sự giảm dần về số lượng từ 2017 đến 2019. Bò lai Zebu chiếm tỷ lệ 77,2% trong cơ cấu giống bò lai nhưng có sự đa dạng về con giống như Charolais, Red Angus, Wagyu, Droughtmaster và BBB (Quyến và ctv. Hiện trạng chăn nuôi và sinh sản của đàn bò lai huớng thịt tại tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2017-2019 có khoảng 210. Bò lai chiếm tỷ lệ 95,8% tổng đàn với 5 nhóm giống lai bao gồm: Zebu, Charolais, Red Angus, Droughtmaster và BBB, tuy nhiên bò lai Zebu chiếm cao nhất (40,8%) so với 5 nhóm bò lai (Quyến và ctv.

Kết quả từ các báo cáo này cho thấy cơ cấu giống các nhóm bò lai hướng thịt đang thay đổi theo xu hướng tăng dần diễn ra tại nhiều địa phương trong tổng đàn bò ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu sử dụng xơ trung tính NDF trong khẩu phần của bò lai hướng thịt Black Angus, Charolais và Wagyu x lai Zebu" của tác giả Nguyễn Bình Trường, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Văn Thu tại Trường Đại Học Cần Thơ, tập trung vào việc phân tích và ứng dụng xơ trung tính NDF trong khẩu phần dinh dưỡng cho các giống bò lai thịt. Nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện chất lượng dinh dưỡng cho bò mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất trong ngành chăn nuôi bò thịt tại Việt Nam. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách tối ưu hóa khẩu phần ăn cho bò lai, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng thịt.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác trong lĩnh vực chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, hãy khám phá thêm các bài viết liên quan như "So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật giữa mô hình nuôi lươn có bùn và không bùn ở Cần Thơ", nơi bạn có thể tìm hiểu về các mô hình nuôi trồng thủy sản khác nhau, hoặc "Luận Án Về Phân Tích Chuỗi Giá Trị Thủy Sản Tỉnh Nghệ An", giúp bạn nắm bắt được các yếu tố quyết định trong chuỗi giá trị sản xuất thủy sản. Những tài liệu này sẽ mở rộng thêm kiến thức của bạn về các phương pháp và chiến lược trong ngành nông nghiệp và thủy sản.