Chương 1 gồm có các mục sau: 1. Khái niệm, mục đích, yêu cầu của công tác thống kê tài liệu lưu trữ. Nội dung và phương pháp thống kê tài liệu lưu trữ. Vai trò của việc ứng dụng tin học trong công tác lưu trữ và thống kê tài liệu.
Cùng với chương 2, các thông tin của chương này sẽ là cơ sở khoa học, quyết định việc xây dựng hệ CSDL thống kê tài liệu lưu trữ của Kho Lưu trữ Trung ương Đảng. Chƣơng 2: Tình hình tài liệu và công tác thống kê tài liệu của Kho Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng. Chương này phân tích hệ thống tài liệu Kho Lưu trữ Trung ương Đảng trên các phương diện: phạm vi thẩm quyền thu thập, quản lý tài liệu lưu trữ, thành phần, nội dung và giá trị của tài liệu lưu trữ trong Kho. Trên cơ sở phân tích hệ thống công cụ thống kê hiện có, những mặt được và tồn tại của hệ thống công cụ thống kê và kết quả quá trình ứng dụng tin học trong thống kê 15 z của Kho, khẳng định vai trò của công tác thống kê tài liệu và việc ứng dụng công nghệ tin học vào công tác này trong quản lý tài liệu, những vấn đề đặt ra trong ứng dụng cần tiếp tục giải quyết.
Chương 2 gồm có các mục sau: 2. Thành phần và nội dung tài liệu của Kho Lưu trữ Trung ương Đảng. Tình hình thống kê tài liệu của Kho Lưu trữ Trung ương Đảng. Hệ thống công cụ thống kê tài liệu.
Tình hình quản lý, sử dụng và ứng dụng tin học trong công tác thống kê tài liệu. Chƣơng 3: Thiết kế hệ thống CSDL thống kê tài liệu tại Kho Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng. Đây là một trong những vấn đề cốt lõi của luận văn. Trên cơ sở phân tích hệ thống tài liệu và công cụ thống kê hiện có của Kho Lưu trữ Trung ương Đảng đã được phân trích ở chương 2, tác giả sẽ đưa ra những vấn đề có liên quan đến việc xây dựng hệ thống CSDL thống kê tài liệu: mục đích, yêu cầu của việc xây dựng CSDL, xác định các CSDL cụ thể trong hệ thống CSDL thống kê của Kho.
Từ đó, xác định các nội dung thông tin cần được xử lý trong từng CSDL trên các mặt: yêu cầu xử lý thông tin đầu vào như bổ sung và hoàn chỉnh thông tin cho các công cụ thống kê, xác định các yêu cầu đầu ra của CSDL, xác định cấu trúc các trường trong biểu ghi và hướng dẫn biên mục biểu ghi nhập dữ liệu. Kết quả cuối cùng là xây dựng được hệ thống CSDL thống kê quản lý tài liệu lưu trữ của Kho Lưu trữ Trung ương Đảng tương đối toàn diện, thống nhất, có thể phục vụ kịp thời, đầy đủ và chính xác các yêu cầu quản lý và khai thác thông tin trong dữ liệu được nhập. 16 z Chương 3 bao gồm các mục sau: 3. Đặc điểm thông tin của CSDL lưu trữ Kho Lưu trữ TW Đảng.
Mục tiêu của việc xây dựng hệ thống CSDL thống kê tài liệu Kho lưu trữ Trung ương Đảng. Xử lý thông tin tiền máy CSDL thống kê tài liệu Kho Lưu trữ Trung ương Đảng. Kết quả xây dựng thử nghiệm CSDL Quản lý hồ sơ lưu trữ. Trong phần Phụ lục, ngoài các mẫu sổ sách thống kê truyền thống của Kho lưu trữ Trung ương Đảng, biểu mẫu đầu ra được thiết kế cho các CSDL thống kê, chúng tôi sẽ trình bày một số sản phẩm qua ứng dụng thử nghiệm bước đầu của CSDL quản lý hồ sơ, với các dữ liệu có thật, thông qua một phần mềm tự chọn, tra tìm và thống kê một vài kết quả theo các yêu cầu đầu ra của CSDL, như kết quả tra tìm theo phông, theo chuyên đề, tổng hợp số liệu tài liệu trong phông,.
nhằm chứng minh tính khả thi của CSDL. Luận văn này hoàn thành ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân còn có sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng, Trung tâm Công nghệ thông tin Văn phòng Trung ương Đảng, các đồng chí lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp tại Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng, đặc biệt sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của T. Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó. Tác giả 17 z Chƣơng 1 CÁC NGUYÊN TẮC, PHƢƠNG PHÁP THỐNG KÊ VÀ VAI TRÒ CỦA ỨNG DỤNG TIN HỌC TRONG THỐNG KÊ TÀI LIỆU LƢU TRỮ 1.
Khái niệm, mục đích, yêu cầu và nguyên tắc của công tác thống kê tài liệu lƣu trữ 1. Khái niệm Để hiểu về vai trò của thống kê tài liệu lưu trữ trong công tác lưu trữ, trước hết, chúng ta cần phân biệt khái niệm thống kê tài liệu lưu trữ và thống kê công tác lưu trữ. Hiện tại trong các tài liệu chuyên ngành lưu trữ còn nhiều định nghĩa chưa thống nhất và chưa chuẩn xác về hai khái niệm này. Trong sách "Công tác lưu trữ Việt Nam" xuất bản năm 1987, khái niệm thống kê tài liệu lưu trữ là việc "áp dụng các công cụ, phương tiện chuyên môn nghiệp vụ để nắm 18 z được chính xác số lượng, chất lượng, thành phần, nội dung, tình hình tài liệu, tình hình cán bộ và hệ thống bảo quản trong công tác lưu trữ" [12, 173].
Tương tự như vậy, Từ điển Thuật ngữ Lưu trữ Việt Nam xuất bản năm 1992 cũng đã định nghĩa thống kê tài liệu lưu trữ là "quá trình ghi chép số lượng, thành phần, nội dung, tình hình tài liệu và hệ thống bảo quản trong các lưu trữ" [13, 77]. Trong cuốn "Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ" của tập thể các tác giả bộ môn lưu trữ học, khoa Lịch sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, xuất bản năm 1990 định nghĩa như sau: "Thống kê tài liệu là sử dụng những phương pháp và phương tiện thích hợp để xác định rõ ràng và chính xác số lượng, thành phần tài liệu, tình hình và hệ thống bảo quản chúng" [11, 145]. Phân tích các định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy các định nghĩa đều bao hàm nội dung là áp dụng các phương pháp thống kê để nhằm mục đích nắm được số lượng tài liệu trong các kho lưu trữ. Tuy nhiên, xét về mặt nội hàm của khái niệm, các khái niệm này đều chưa chính xác ở những điểm sau: Trong các khái niệm nêu trên, đối tượng công tác thống kê quá rộng, vượt khỏi phạm vi khái niệm tài liệu lưu trữ.
Đối tượng thống kê trong các định nghĩa này thuộc phạm vi khái niệm thống kê công tác lưu trữ. Thống kê tài liệu lưu trữ chỉ cung cấp các số liệu về tài liệu lưu trữ, bởi vì đối tượng tài liệu lưu trữ chỉ là tài liệu lưu trữ, do vậy, thống kê tài liệu lưu trữ không cung cấp số liệu về tình hình cán bộ và hệ thống bảo quản. Thống kê tài liệu lưu trữ không cho phép chúng ta nắm được chính xác chất lượng của đối tượng thống kê, đó là tài liệu lưu trữ. Nó chỉ có thể cho phép chúng ta nắm được các thông tin về số lượng, khối lượng, thành phần của tài liệu lưu trữ, còn về nội dung của chúng, thống kê chỉ đề cập đến một cách khái quát, tuỳ thuộc vào từng cấp độ và đối tượng của thống kê.
19 z Như vậy, về mặt thuật ngữ, hiện tại chúng ta chưa có một khái niệm thống nhất và chuẩn xác về thống kê tài liệu lưu trữ. Việc nghiên cứu đưa ra một khái niệm thống nhất và chuẩn xác về thống kê tài liệu lưu trữ là hết sức cần thiết. Với đề tài "Nghiên cứu xây dựng hệ thống công cụ thống kê các loại tài liệu lưu trữ" do Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Đương làm Chủ nhiệm cùng tập thể các nhà nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học, Cục Lưu trữ Nhà nước tiến hành, khái niệm này được hiểu như sau: "Thống kê tài liệu lưu trữ là quá trình ghi chép và phản ánh số lượng, khối lượng và thành phần của tài liệu lưu trữ theo các đơn vị thống kê trong hệ thống các công cụ thống kê tài liệu lưu trữ" [31, 10]. Theo định nghĩa trên thì có thể hiểu rằng, thống kê tài liệu lưu trữ trước hết là một quá trình, đối tượng thống kê là tài liệu lưu trữ.
Chúng tôi cho rằng, trước hết khái niệm này cho phép chúng ta phân biệt với khái niệm về thống kê công tác lưu trữ. Có nghĩa là, thống kê tài liệu lưu trữ chỉ là một trong những nhiệm vụ cơ bản của thống kê công tác lưu trữ. Thống kê công tác lưu trữ bao gồm: thống kê tài liệu lưu trữ, thống kê các công cụ tra cứu khoa học và các thông tin đối với tài liệu lưu trữ, thống kê các phương tiện bảo quản tài liệu lưu trữ. Theo nội dung này, thống kê công tác lưu trữ có đối tượng rộng hơn nhiều so với thống kê tài liệu lưu trữ.
Tuy nhiên, khái niệm mới của các nhà nghiên cứu cũng chưa thể coi là toàn diện và chính xác, vì nó mới chỉ đề cập đến mục tiêu của thống kê tài liệu lưu trữ, phạm vi thống kê tài liệu lưu trữ. Về mặt phương pháp, khái niệm đó cho rằng "thống kê tài liệu lưu trữ là quá trình ghi chép." có lẽ chưa chính xác, bởi chúng ta đều biết rằng, muốn có các kết quả thống kê tài liệu lưu trữ chính xác, đầy đủ, cũng đòi hỏi phải áp 20 z dụng các phương pháp, phương tiện khoa học, không chỉ đơn thuần là việc ghi chép, tính toán giản đơn. Mới đây nhất, trong cuốn "Những nguyên tắc công tác chủ yếu của các Viện lưu trữ cố định Liên bang Nga" và cuốn "Những nguyên tắc công tác chủ yếu của các lưu trữ cơ quan" do Tổng cục Lưu trữ Liên bang Nga xuất bản năm 2002 (tiếng Nga), thì khái niệm thống kê tài liệu lưu trữ được hiểu là: việc xác định số lượng và thành phần của tài liệu trong đơn vị thống kê và đăng ký vào sổ thống kê, trong đó đăng ký rõ ràng địa chỉ tài liệu, sự thiếu đủ của tài liệu, trạng thái vật lý của tài liệu [86, 98]. Trong lưu trữ cơ quan, việc thống kê tài liệu được hiểu theo ba nội dung sau: - Đó là sự xác định số lượng và thành phần của tài liệu trong những đơn vị thống kê đã được ấn định và đăng ký chúng vào các công cụ thống kê; - Thống kê tài liệu được hiểu là sự đăng ký chúng từ khi thu vào lưu trữ, sự hiện diện, số lượng, thành phần và tình trạng vật lý của tài liệu trong đơn vị thống kê.