ĐẶT VẤN ĐỀ Tinh dầu trầm là hỗn hợp của rất nhiều hợp chất này có trong bộ phận Trầm trên cây Trầm hƣơng hay còn gọi là cây Dó Bầu (hữu cơ thơm dễ bay hơi và không hòa tan trong nƣớc ở điều kiện thƣờng, loại tinh dầu Aquilaria). Thành phần hóa học trong tinh dầu sẽ quyết định đến chất lƣợng của tinh dầu, mang lại giá trị riêng của nó. Trong quá trình sinh trƣởng, do những tác động nào đó mà gây ra những tổn thƣởng, nhiễm bệnh lâu ngày cây tích tụ một chất dạng nhựa rồi tan dần ra làm biến đổi các phần tử gỗ với nhiều mầu sắc, tính chất, hình dáng, hƣơng thơm khác nhau ở nhiều vị trí trên cây (thân, cành, rễ). Đó chính là trầm hƣơng có tên giao dịch thƣơng mại Quốc tế Agarwood hay Eaglewood.
Hiện nay việc phân tích về thành phần hỗn hợp trong tinh dầu trầm hƣơng ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn do hàm lƣợng tinh dầu trầm rất nhỏ khiến việc chƣng cất chƣng cất trong phòng thí nghiệm còn gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra việc phân tích thành phần hóa học tinh dầu trầm đòi hỏi cần thiết bị phân tích hiện đại (GC/MS) với thƣ viện phổ phải cập nhập liên tục do đó nhiều nghiên cứu còn chuyển sang hƣớng khác. Sự hình thành trần hƣơng tự nhiên trong thân gỗ cây Dó Bầu là một quá trình lâu dài phải mất một thời gian từ vài chục năm trở lên và không phải bất cứ cây nào cũng cho trầm. Chính vì vậy, đề tài “Nghiên cứu xác định thành phần hóa học trong tinh dầu trầm hƣơng của một số loài cây trầm ở Việt Nam” sẽ là cơ sở để nghiên cứu mối quan hệ của loài Dó với thành phần hóa học tinh dầu trầm hƣơng, là cơ sở cho việc nghiên cứu tạo trầm và nuôi cấy trầm trên cây Dó.
Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu này còn góp phần nâng cao vị thế, giá trị của tinh dầu trầm hƣơng cũng nhƣ giá trị của cây Dó để từ đó đề xuất ra các giải pháp hợp lý về vấn đề bảo vệ loài này đã đƣợc liệt kê trong sách đỏ của IUCN (The International Union for the Conservation) và có nguy cơ bị tuyệt chủng. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thực trạng phát triển của loài trầm hƣơng tại Việt Nam 1. Tầm quan trọng, ý nghĩa kinh tế - xã hội của trầm hương [4] Loài cây có khả năng sinh trầm trong thân cây thƣờng gọi chung là cây Dó trầm hay cây Trầm hƣơng.
Sản phẩm thƣơng mại gọi là Agarwood, Agar wood oil hoặc Eaglewood. Tinh dầu Trầm hƣơng là loại tinh dầu thơm thƣợng hạng, dùng làm hƣơng liệu, chất định hƣơng trong công nghiệp mỹ phẩm cao cấp… Ngoài ra, trầm hƣơng còn làm hƣơng nhang đốt trong các dịp lễ hội phục vụ tín ngƣỡng tôn giáo. Đặc biệt, trầm hƣơng còn là nguyên liệu quý làm thuốc chữa một số chứng bệnh nhƣ: trúng gió, đau ngực, đau bụng, đau dạ dày, hen suyễn, lá non chữa ho và đắp vào lòng bàn tay chữa đau mắt đỏ,…(Lã Đình Mỡi và nnk, 2007). Nghiên cứu của Cerboncini et al (2013) đã khẳng định Trầm hƣơng có các chất sesquiterpen với cấu trúc hóa học đặc biệt nhƣng không thể tổng hợp nhân tạo đƣợc, rất giầu hợp chất mang tính dƣợc liệu và hƣơng vị, các loại terpen có hoạt tính cao (> 300 terpenoid); có nhiều thành phần chất phenolic chống dị ứng 2-(2 phenyethyl), chất ức chế ung thƣ (ferulylglycerides); chứa tinh dầu, chất chứa hƣơng thơm đặc biệt.
Theo kết quả điều tra của Bùi Minh Vũ (2004) từ năm 1985-1995, bình quân mỗi năm Việt Nam xuất khẩu đƣợc từ 125-130 tấn trầm hƣơng, chủ yếu đƣợc khai thác từ rừng tự nhiên. Giá trầm hƣơng loại I trung bình từ 8000-8500 USD/kg, trầm hƣơng loại V trung bình từ 150-200 USD/kg. Thị trƣờng tiêu thụ chủ yếu là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc,các nƣớc EU và Mỹ. Trầm hƣơng Việt Nam, nhất là Kỳ nam rất đƣợc ƣa chuộng trên thế giới, do có chất lƣợng đặc biệt cao (Compton & Ishihara 2006).
Nguồn cung cấp trầm hƣơng của Việt Nam chỉ đáp ứng đƣợc dƣới 40% nhu cầu (dẫn theo Gratzfeld & Tan 2008) nên giá loại trầm này gia tăng rất nhanh chóng, có thể đạt tới 250. Đinh Xuân Bá chia Kỳ nam làm 5 loại, mà ông gọi là cấp độ giá. Cấp giá cao nhất từ 350.000USD/kg và cấp giá thấp nhất là từ 2 35. Theo Claudio Cerboncini et al (2013), giá Trầm hƣơng thế giới dao động từ 30.
Số lƣợng ngoại tệ từ trầm hàng năm đạt khoảng 5 tỷ USD với 90% nguồn trầm cung cấp từ các nƣớc Châu Á nhƣ In-đô-nê-xi-a, Cam-pu-chia, Thái Lan, Lào và Việt Nam, trong đó In-đô- nê-xi-a cung cấp số lƣợng trầm lớn nhất, chủ yếu bao gồm các mặt hàng chất lƣợng thấp. Về nhập khẩu bột nhang trầm, 6 quốc gia có số lƣợng nhập khẩu lớn là: Đài Loan (63.392 tấn); Nhật Bản (16.290 tấn); Ma Cao (11. Với nến làm từ trầm hƣơng: Theo số liệu nhập khẩu trong 5 năm (2002- 2006) của 206 nƣớc trên thế giới, (riêng 2006 chỉ thống kê đƣợc số liệu nhập khẩu của 39 nƣớc), tổng số sản phẩm nến làm từ trầm hƣơng lên tới hơn 3.558 tấn, nhiều nhất vào năm 2005 với gần 821 tấn, ít nhất vào năm 2006 cũng đạt hơn 319,6 tấn. 10 nƣớc nhập khẩu nến lớn nhất là: Mỹ (200.723 tấn); Hồng Kông (200.907 tấn); Đan Mạch (168.526 tấn); Hà Lan (132.965 tấn); Thuỵ Điển (99.927 tấn) và Mexicô (90.
Lƣợng tinh dầu trầm nhập khẩu trong 5 năm (2002 – 2006) của 167 nƣớc (riêng 2006 mới chỉ thống kê đƣợc số liệu nhập khẩu của 37 nƣớc) lên tới 167.554 tấn, năm nhập khẩu ít nhất (2006) là 9.008 tấn và năm nhiều nhất (2002) là 47. Có 6 nƣớc nhập khẩu tinh dầu trầm lớn nhất là: Mỹ (29.962 tấn); Tây Ban Nha (13. Kể từ đầu những năm 1990, nhu cầu về các sản phẩm trầm hƣơng của ngƣời tiêu dùng ngày càng tăng, việc khai thác không bền vững quần thể các cây trong chi Aquilaria và Gyrinops trong môi trƣờng sống hoang dã đã dẫn đến giảm đáng kể số lƣợng cá thể tự nhiên, đƣa số lƣợng của chúng xuống dƣới mốc quan trọng 0,6 cây/ha, là mốc tối thiểu cần thiết cho sự sống còn của các loài (Momberg et al 2000; Soehartono & Newton 2002). Hiện tại số lƣợng cá thể 3 trầm hƣơng ngoài tự nhiên còn rất ít, tỷ lệ cây có trầm trong tự nhiên chỉ đạt dƣới 10%, cây có trầm đa số là những cây có đƣờng kính trên 20cm, sau 10 – 20 năm nhiễm nấm bệnh.
Do đó, vấn đề thƣơng mại quốc tế và xuất khẩu trầm - một nguồn tài nguyên rừng dễ bị tổn thƣơng - đƣợc quy định hạn ngạch xuất khẩu dựa theo Công ƣớc CITES (Công ƣớc về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã) để đảm bảo rằng việc khai thác và buôn bán sẽ không gây phƣơng hại đến sự tồn tại quần thể trầm tự nhiên (CITES 2011a). Tuy nhiên, trên thực tế việc thu hoạch bất hợp pháp và buôn lậu Trầm tự nhiên ƣớc tính vƣợt gấp hơn 20 lần lƣợng thu hoạch hợp pháp (Chua, 2008; Wyn & Anak 2010) mà chủ yếu là do chƣa có giải pháp công nghệ kiểm soát nguồn gốc, chất lƣợng trầm. Do đó, các yêu cầu của Công ƣớc CITES thƣờng không đƣợc thực thi và không có hệ thống cấp giấy chứng nhận cho Trầm tƣơng tự nhƣ với Hội đồng quản trị rừng (FSC)- Giấy chứng nhận gỗ sản xuất bền vững. Hơn nữa, cùng với sự khan hiếm nguồn trầm, giá của sản phẩm này đã tăng lên đáng kể trên thị trƣờng.
Trên phạm vi toàn cầu, trầm sản xuất hợp pháp phải phù hợp với quy định của Công ƣớc CITES quốc tế, nhƣ yêu cầu của EU đối với sản phẩm trầm hƣơng xuất khẩu là: (1) Phải có chứng chỉ loài; (2) Có chứng chỉ nguồn gốc xuất xứ; (3) Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm. Do quá trình khai thác không bền vững trong nhiều năm, số lƣợng cây dó trầm trong rừng tự nhiên còn lại rất ít nên đã có một thời gian loài cây này đƣợc xem nhƣ là có nguy cơ bị tuyệt chủng và đã đƣa vào Sách Đỏ (2007). Trong khoảng hơn 15 năm trở lại đây phong trào trồng cây dó trong nhân dân ở nhiều địa phƣơng trên cả nƣớc phát triển khá mạnh, diện tích rừng trồng loài cây này ngày càng tăng nhanh, năm 2002 cả nƣớc mới có khoảng 6.000ha, đến hết 2005 thì diện tích rừng trồng cây dó ở nƣớc ta đã tăng gần 8. Số liệu này mới chỉ thống kê đƣợc ở những tỉnh trồng tập trung nhƣ: Hà Tĩnh, Quảng Nam, Kon Tum, Bình Phƣớc, An Giang, Kiên Giang.
Diện tích rừng trồng cây dó trầm ở nƣớc ta hiện nay đã tăng lên tới hàng vạn hecta, chƣa 4 kể đến việc diện tích rừng trồng rừng của các nƣớc lân cận cũng đạt tới hàng vạn hecta (Phạm Trung Thu, 2006). Các loài Trầm hương phân bố ở Việt Nam Các nhà phân loại thực vật đã xác định ở Việt Nam có 4 loài thuộc chi Aquilaria Lamk có khả năng sinh trầm, đó là các loài Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte; Aquilaria baillonii Pierre ex Lamarck, Aquilaria banaense P. Ho và Aquilaria rugosa L.Kiet & Kessler, nhƣng theo dự đoán của nhiều nhà thực vật ở Việt Nam có thể có thêm 2 loài khác thuộc chi trầm hƣơng là Aquilaria sinensis (Lour) Sprengel phân bố ở các tỉnh phía Bắc và Aquilaria malaccensis Lamk phân bố ở các tỉnh phía Nam. Trần Ngọc Hải, 2006 đã mô tả đặc điểm nhận biết nhanh loài Trầm hƣơng và phân cấp bảo tồn loài, theo Sách Đỏ và Nghị định 32/CP của Chính Phủ.
Hoàng Văn Sâm, 2009 đã phát hiện Trầm hƣơng phân bố tại Bến En, đồng thời đánh giá về giá trị bảo tồn của loài thực vật quý hiếm này theo tiêu chuẩn của IUCN và Việt Nam. Hoàng Văn Sâm, Vi Thanh Tùng, 2011 đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái, sinh thái, giá trị sử dụng và đặc biệt là thực trạng phân bố Trầm hƣơng tại Nghệ An. Năm 2010, trong chƣơng trình hợp tác với Viện nghiên cứu thực vật Julich, Đức, cán bộ Trƣờng Đại học Lâm nghiệp đã cùng Tiến sĩ Claudio C. tiến hành thu thập một số mẫu tiêu bản tại Việt Nam.
Kết quả phân tích cho thấy đây là loài khác với các loài của Inđônêsia cũng nhƣ các loài đã từng ghi nhận tại Việt Nam và khác với mẫu tiêu bản Trầm hƣơng đƣợc thu hái tại tỉnh Kon Tum (Aquilaria crassna). Điều này minh chứng rằng các loài cho Trầm tại Việt Nam rất phong phú và đa dạng. Việc định loại những loài có khả năng tạo trầm ở Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu, kết hợp phƣơng pháp hình thái so sánh với những phƣơng pháp hiện đại hơn, nhƣ việc ứng dụng phân tích phân tử ADN.