CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình mắc bệnh loét dạ dày – tá tràng ở Việt Nam và thế giới 1. Việt Nam Theo thống kê tỷ lệ mắc bệnh loét dạ dày – tá tràng ở Việt Nam chiếm khoảng 6-7% dân số [3]. Tỷ lệ nhiễm loét dạ dày – tá tràng có Helicobacter pylory ở thành phố Hồ Chí Minh là 64,7%, ở miền Bắc Việt Nam từ 53% đến 72,8% số ca bị loét dạ dày – tá tràng.
Tỷ lệ nhiễm Helicobacter pylory khoảng 53-89,5% ca bệnh người lớn tại một số bệnh viện thành phố lớn, ở lứa tuổi từ 15-75 là 56%- 75,2% [12]. Một nghiên cứu tại tỉnh Vĩnh Phúc 2021 cho thấy trong những người tham gia nghiên cứu, phần lớn người bệnh loét dạ dày tá tràng có chất lượng cuộc sống theo thang điểm SF-36: 4,6% người bệnh có chất lượng cuộc sống ở mức độ thấp, mức độ trung bình với 69,0% [4]. Trên thế giới Theo một nghiên cứu gần đây năm 2021, có khoảng 8,4% dân số thế giới Viêm loét dạ dày - tá tràng [1]. Ở Iran tỷ lệ loét dạ dày tá tràng dao động từ 13,6% đến 47,2% [2].
Theo một nghiên cứu Tỷ lệ loét dạ dày – tá tràng ở người lớn là 5 % cao hơn nhiều so với trẻ em chỉ khoảng 1. Loét dạ dày - tá tràng ở trẻ em thường tiên phát, chủ yếu là mạn tính và khu trú ở tá tràng có nguyên nhân chủ yếu do nhiễm HP (khoảng 80%) hoặc không rõ nguyên nhân (khoảng 20%) [13]. Tổng quan về loét dạ dày – tá tràng theo YHHĐ 1. Giải phẫu – sinh lý dạ dày – tá tràng Dạ dày chứa thức ăn, thức ăn được trộn lẫn với acid, chất nhầy, pepsin, thành vị trấp rồi xuống tá tràng theo từng đợt với tốc độ phù hợp cuối cùng được hấp thu ở ruột non [14].
Dạ dày nằm ở các vùng thượng vị, rốn, hạ sườn trái của bụng. Dạ dày theo giải phẫu là phần giãn to nhất của ống tiêu hóa ở giữa ruột non vàt thực quản. Sự biến đổi của lượng thức ăn mà nó chứa và ảnh hưởng bởi các tạng xung quanh sẽ khiến hình thể, vị trí dạ dày biến đổi theo. Người ta đã tiến hành đo tích của dạ dày: trẻ sơ sinh (khoảng 30 ml), tuổi dậy thì (1000 ml) ở người trưởng thành (1500 ml).
Giải phẫu dạ dày [15] Dạ dày kể từ trên xuống dưới là phần tâm vị, đáy vị, thân vị và phần môn vị. Khi rỗng dạ dày có hình chữ J, hai đầu là tâm vị ở trên và môn vị ở dưới với hai thành trước và sau, hai bờ cong bé và lớn. - Tâm vị: hay phần tâm vị là vùng dạ dày vây quanh lỗ tâm vị. Tâm vị có bờ trái liên tiếp với bờ cong lớn tại 4 một góc nhọn gọi là khuyết tâm vị, còn bờ phải là thực quản liên tiếp với bờ cong nhỏ.
5 Vị trí tâm vị nằm bên trái đường giữa, sau sụn sườn VII, cách chỗ sụn sườn VII gắn với xương ức 2,5 cm. - Các bờ cong: bờ cong nhỏ là bờ phải (bờ sau – trên) của dạ dày, từ tâm vị đi xuống dưới rồi cong sang phải tới môn vị. Bờ cong lớn hướng về phía trước – dưới và dài gấp năm lần bờ cong nhỏ, bắt đầu từ khuyết tâm vị, đầu tiên chạy lên về phía sau – trên và sang trái viền quanh đáy vị như một vòm, với nơi cao nhất của vòm ở ngang mức khoang gian sườn V trái, sau đó nó cong xuống dưới và ra trước, hơi lồi sang trái, kéo dài tới sụn sườn X, sau đó hướng sang phải tới môn vị. - Thân vị: nằm dưới đáy vị.
Ở dưới, thân vị ngăn cách với phần môn vị bởi mặt phẳng đi ngang qua giới hạn trái của chỗ phình vị hang môn vị của bờ cong lớn và khuyết góc của bờ cong nhỏ. - Đáy vị: cách thực quản bởi khuyết tâm vị, là phần dạ dày nằm ở trên và bên trái lỗ tâm vị,. – Môn vị: là phần nằm ngang có thể chia làm 2 phần hang môn vị, môn vị và ống môn vị [15]. Định nghĩa về loét dạ dày – tá tràng: Định nghĩa loét dạ dày - tá tràng là bệnh lí với tình trạng niêm mạc dạ dày bị tổn thương bề mặt vượt quá lớp cơ niêm do tác động của dịch vị dạ dày.
Do số lượng bệnh nhân nhiều, bệnh mạn tính và dễ tái phát, chi phí điều trị cao và có thể gây một số biến chứng nên là vấn đề lớn với sức khỏe cộng đồng [16]. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của loét dạ dày- tá tràng: Nguyên nhân của bệnh Các yếu tố thuận lợi Hình ảnh giải phẫu bệnh Nguyên nhân do sự - Các yếu tố di truyền - Quan sát được hình ảnh mất cân bằng giữa yếu học, môi trường sống. bệnh lí từ niêm mạc, các lớp tố bảo vệ và yếu tố tấn - Bệnh u tụy, xơ gan, dưới niêm mạc công. - Có thể phân chia các ổ loét Yếu tố tấn công: - Thần kinh căng theo tính chất loét như sau: + Acid clohydric và thẳng, stress + Loét mới: thoái hóa niêm pepsin dịch vị.
- Nhịp điệu và tính mạc gần chỗ loét, chỗ loét có + Vi khuẩn HP. chất thức ăn bị rối loạn tổ chức xơ và bạch cầu, dưới + Thuốc chống viêm - Chức năng nội tiết niêm mạc huyết quản giãn và Yếu tố bảo vệ: bị rối loạn nhiều bạch cầu, tuyến ngắn + Các muối bicarbonat - và ít. + Chất nhầy mucin + Loét cũ: ổ loét có hình + Mao mạch niêm dạng méo mó, ở giữa không mạc dạ dày. có niêm mạc, với tuyến ít.
+ Tế bào biểu mô toàn Quanh ổ loét tổ chức liên vẹn và được tái tạo kết có sự tăng sinh huyết quản dày, tổ chức đệm nhiều tế bào viêm,. + Loét sẹo: hình ảnh ổ loét có niêm mạc bao phủ, bên dưới niêm mạc không có tổ chức xơ khó xác định. + Loét chai: hình ảnh ổ loét to, có bờ cao, tính chất rắn cứng, tuyến ít, với lớp niêm mạc xung quanh rúm ró. Chẩn đoán Chẩn đoán loét dạ dày dựa vào các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng a) Triệu chứng lâm sàng - Triệu chứng của viêm dạ dày là những cơn đau thượng vị âm ỉ, đau không lan và có liên quan tới bữa ăn.
Đây là điểm khác biệt so với loét dạ dày. Trong loét dạ dày có những cơn đau thượng vị nhiều hơn, có tính chu kì và thành từng đợt, đau tăng lên ngay sau ăn, thường kèm với nôn và sụt cân, đau lan ra sau lưng nếu có biến chứng. Khám lâm sàng thường không có gì đặc biệt, có thể thấy co cứng nhẹ hoặc phát hiện các biến chứng của loét dạ dày - Tuy nhiên điểm này cũng rất ít có ý nghĩa trong chẩn đoán phân biệt. Loét và viêm chủ yếu được chẩn đoán dựa trên nội soi và mô bệnh học.
- Đau tăng dần khi có các yếu tố nguy cơ tác dụng như uống rượu bia, hút thuốc lá [17]. b) Cận lâm sàng - Nội soi dạ dày -tá tràng: Đây là phương pháp chẩn đoán xác định có giá trị nhất. - Chụp dạ dày - tá tràng có barit: Hiện ít được sử dụng. Test HP: Các test không xâm nhập bao gồm test hơi thở ure, tìm kháng nguyên trong phân, test huyết thanh học [17].
c) Điều trị loét dạ dày - Do cơ chế bệnh sinh là sự mất cân bằng giữa yếu tố tấn công và yếu tố bảo vệ niêm mạc. Loét dạ dày có thể được điều trị bằng các phương pháp làm giảm yếu tố tấn công (thuốc giảm tiết acid, trung hòa acid, kháng sinh diệt HP) và tăng cường yếu tố bảo vệ (sucralfat, bismuth, prostaglandin) [17]. Điều trị Nguyên tắc điều trị: 8 • Điều trị để cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ và các tấn công bằng cách dùng thuốc ức chế axit, loại bỏ các yếu tố tấn công kèm đó dùng các thuốc tăng cường các yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày. Cần phối hợp các biện pháp điều chỉnh lối sống (chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, làm việc) và chế độ điều trị bằng thuốc [18], [19].
a/ Nội khoa • Nhóm thuốc kháng acid: Nhóm thuốc có nhiều điểm chưa tối ưu: tác dụng ngắn, phải dùng nhiều lần trong ngày, không có lợi nếu bệnh nhân dùng lâu. Thành phần chính gồm Mg(OH)2, Al(OH)3. • Nhóm kháng thụ thể H2: Cơ chế tác dụng là tranh chấp với histamin nên ức chế thụ thể H2 ở tế bào thành dạ dày. Làm giảm cả dịch vị kích thích lẫn bài tiết dịch vị cơ bản: Giảm 90% bài tiết dịch vị cơ bản, 50 – 70% bài tiết dịch vị 24h.
• Nhóm ức chế bơm Proton: Là dẫn xuất của nhóm chất Benzimidazole. Có khả năng ức chế enzym K+/H+ – ATPase hoạt động nên thuốc tác động khâu cuối của quá trình bài tiết acid dịch vị. Chính vì vậy nhóm thuốc này được coi là nhóm có khả năng cao nhất trong kiểm soát bài tiết acid dịch vị. Về thời gian tác dụng: Tác dụng chậm hơn các nhóm kháng acid khác tuy nhiên đây là nhóm thuốc ức chế bài tiết lâu và mạnh nhất.
Ngoài ra nhóm thuốc này ít có tác dụng phụ hơn so với nhóm thuốc kháng thụ thể H2, ghi nhận thuốc có thể có tác dụng phụ như tiêu chảy nhẹ, gây nhức đầu. - Thuốc tăng cường bảo vệ niêm mạc: Bismuth: là nhóm thuốc phổ biến có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày và diệt HP Misoprostol: có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày do làm tăng yếu tố 9 bảo vệ (tăng bài tiết chất nhầy, bicarbonat, tăng dòng máu tới niêm mạc dạ dày). Sucralfate: thành phần chính là Sulfat + Saccharose + Al(OH)3. Thời gian tác dụng nhanh (tạo lớp nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày) nhưng có yếu điểm thời gian gây táo bón và tác dụng ngắn.
Rebamipide: đồng phân của 2-(1H)-quinolinone. Tác dụng kháng viêm tại chỗ trên niêm mạc ống tiêu hóa, kích thích lên niêm mạc dạ dày tăng bài tiết Prostaglandin nội sinh, từ đó giúp cải thiện quá trình lành vết loét, đặc biệt hiệu quả với ổ loét ≥ 2cm. [20] - Thuốc ức chế Axit cạnh tranh Kali K+ATPase H, K-ATPase của dạ dày tế bào thành của dạ dày bơm axit, là bước cuối cùng của quá trình tiết axit ở dạ dày. Sự kích thích của tế bào thành dạ dày sẽ di chuyển H,K-ATPase vào các ống tiểu quản chế tiết, và sau đó enzym có thể bơm axit bằng cách liên kết với độ dẫn K+ và Cl−.