Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về viêm hô hấp cấp 1. Định nghĩa và phân loại viêm hô hấp cấp 1. Định nghĩa viêm hô hấp cấp Viêm hô hấp cấp (VHHC) là một nhóm bệnh rất đa dạng do vi khuẩn hoặc do virus gây ra tại bất kỳ vị trí nào trên toàn bộ đường hô hấp bao gồm từ mũi, họng, thanh – khí – phế quản đến nhu mô phổi.
Thời gian bệnh không quá 30 ngày, ngoại trừ viêm tai giữa cấp là 14 ngày [5]. Phân loại viêm hô hấp cấp *Phân loại theo vị trí giải phẫu Theo Tổ chức y tế Thế giới (WHO) đưa ra là lấy nắp thanh quản làm ranh giới để phân chia viêm đường hô hấp trên và viêm đường hô hấp dưới [4], [5]. - Viêm đường hô hấp trên: Tổn thương ở phía trên nắp thanh quản, thường là nhẹ, bao gồm các trường hợp như ho, cảm lạnh, viêm tai giữa, viêm mũi họng, phần lớn các trường hợp VHHC ở trẻ em là viêm đường hô hấp trên chiếm 70-80% [4]. - Viêm đường hô hấp dưới: Tổn thương ở phía dưới nắp thanh quản, thường là nặng, bao gồm các trường hợp viêm thanh quản, viêm khí quản, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi, viêm đường hô hấp trên ít gặp hơn (20-30%) nhưng thường là nặng, là nguyên nhân gây tử vong ở trẻ [4].
*Phân loại theo mức độ nặng nhẹ của bệnh VHHC ở trẻ em có thể có nhiều dấu hiệu lâm sàng như: sốt, viêm họng, chảy mũi nước, ho, nhịp thở nhanh, rút lõm lồng ngực, cánh mũi phập phồng, thở khò khè, tím tái, bú kém hoặc bỏ bú, co giật [16], [19]. 4 Nhưng theo WHO thì có thể dựa vào các dấu hiệu cơ bản như ho, thở nhanh, rút lõm lồng ngực và một số dấu hiệu khác để phân loại xếp theo mức độ nặng nhẹ của bệnh [5]. Gồm có 4 mức độ: - Không viêm phổi (VHHC thể nhẹ): Trẻ chỉ có dấu hiệu chảy mũi nước, ho, không cần dùng kháng sinh, chăm sóc tại nhà. - Viêm phổi nặng (VHHC thể nặng): Trẻ có dấu hiệu rút lõm lồng ngực, cần đưa trẻ đến ngay bệnh viện điều trị.
- Bệnh rất nặng: Nếu trẻ có một trong các dấu hiệu sau được phân loại là bệnh rất nặng, cần đưa trẻ đến bệnh viện kịp thời: + Không uống được. + Bỏ bú hoặc bú kém. + Sốt hoặc hạ nhiệt (đối với trẻ dưới 2 tuổi). + Ngủ li bì khó đánh thức.
+ Thở rít khi nằm yên. + Suy dinh dưỡng (SDD) nặng [5]. Nguyên nhân viêm hô hấp cấp 1. Nguyên nhân do virus Phần lớn VHHC ở trẻ em là do nguyên nhân virus (chiếm 70%), virus gây nhiễm khuẩn hô hấp chủ yếu là viêm đường hô hấp trên, phổ biến là vào mùa đông, loại và mức độ trầm trọng của bệnh chịu ảnh hưởng bởi một vài yếu tố bao gồm: tuổi, mùa trong năm, tình trạng miễn dịch, yếu tố môi trường [4].
Hơn 200 virus có thể gây VHHC và Rhinoviruses chiếm 1/3 trong tất cả các loại virus gây bệnh. Những virus thường gây bệnh VHHC ở trẻ em là: Virus 5 hợp bào hô hấp, virus cúm – á cúm, virus sởi, Adenovirus, Rhino virus, Entero virus, Corrna virus và các loại virus khác [4]. Nguyên nhân do vi khuẩn Các loại vi khuẩn thường gây VHHC thứ phát sau virus. Nhất là tại các nước phát triển thì khả năng bội nhiễm vi khuẩn có tỷ lệ rất cao, nhất là đối với trẻ dưới 3 tuổi VHHC do vi khuẩn thứ phát sau nhiễm virus, trong đó hai nhóm vi khuẩn thường gặp là Hemophilus influenzae, Streptococcus pneumonia.
Theo nghiên cứu của nhiều nước phát triển và cả Việt Nam thì vi khuẩn gây viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi thường gặp là: Hemophilus influenzae, Streptococcus pneumonia, Staphyloccocus aureus, Bordella, Kblebsiella pneumoniae, Clamidia trachomatis và các vi khuẩn khác [4]. Dự phòng viêm hô hấp cấp Để giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do VHHC ở trẻ em, cần tiến hành các biện pháp phòng bệnh sau đây. - Bảo đảm cho trẻ được bú mẹ sau khi sinh càng sớm càng tốt, cho trẻ ăn dặm đúng, đảm bảo chế độ dinh dưỡng hàng ngày. - Vệ sinh cá nhân và môi trường sạch sẽ, nhà cửa thoáng mát không khí trong lành.
- Không nên đun bếp, hút thuốc lá trong phòng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. - Giữ ấm cho trẻ về mùa đông và khi thay đổi thời tiết. - Tiêm chủng phòng bệnh đầy đủ và đúng lịch. - Phát hiện sớm và xử trí đúng các trường hợp mắc bệnh theo phác đồ.
- Tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho bà mẹ về cách phát hiện, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ khi bị VHHC [4]. Tình hình viêm hô hấp cấp ở trẻ en dưới 5 tuổi 1. Tình hình trên thế giới Ở các nước đang phát triển, theo số liệu của WHO, mỗi trẻ em trung bình 1 năm mắc VHHC từ 4 - 9 lần. Ước tính trên toàn cầu mỗi năm có khoảng 2 tỷ lượt trẻ em mắc VHHC chiếm 19–20% số tử vong ở trẻ, tiếp theo là tiêu chảy (14%) và sơ sinh (32%) kết hợp với các bệnh khác, còn lại là nguyên nhân khác [22], [23], [34].
Các bệnh VHHC là nguyên nhân mắc bệnh và tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 5 tuổi, chủ yếu là viêm phổi. Viêm phổi là nguyên nhân của gần 1/5 số trẻ em tử vong trên toàn Thế giới, với khoảng 2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết mỗi năm. Phần lớn số trẻ em chết xảy ra ở Châu Phi và Đông Nam Á [36], [37]. Theo số liệu của WHO, năm 2002 cả thế giới có 94.037 trường hợp tử vong vì VHHC, trong đó tính riêng khu vực Đông Nam Á là 32.904 trường hợp, chiếm 35% số tử vong của cả năm [38].
Báo cáo về tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi tại khu vực Đông Nam Á cho thấy: tử vong do trẻ mắc VHHC chiếm tỷ lệ cao nhất: 25% tổng số trẻ tử vong trong khu vực, tiếp đến là tiêu chảy (14%) còn lại là các nguyên nhân khác [25]. Theo Igor Rudan (2005), ước lượng tỷ lệ viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi trên phạm vi toàn cầu trong các nghiên cứu dọc dựa vào cộng đồng cho thấy: Tỷ lệ mới mắc các đợt viêm phổi ở các nước đang phát triển là 0,29 đợt/năm/trẻ. Ở các nước phát triển là 0,026 đợt/năm/trẻ và trên 95% các đợt viêm phổi ở trẻ em trên thế giới xảy ra ở các nước đang phát triển [23], [32]. Năm 2004, Michael Ostapchuk và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tình hình viêm phổi mắc phải ở cộng đồng thuộc Châu Âu và Bắc Mỹ.
Tác giả đã đưa ra thuật ngữ “viêm phổi mắc phải cộng đồng” đề cập tới một loại viêm phổi xảy ra ở một người trước đó khỏe mạnh, người mắc phải bệnh này ở ngoài bệnh viện. Viêm phổi mắc phải cộng đồng là một trong những nhiễm khuẩn phổ biến 7 và nặng nhất ở trẻ em với một số mới mắc hàng năm là từ 34 – 40 ca trên 1000 trẻ ở Châu Âu và Bắc Mỹ [30]. Mặc dù tử vong do viêm phổi mắc phải cộng đồng là hiếm gặp ở các nước công nghiệp phát triển nhưng lại là bệnh phổ biến nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi. Ở các nước đang phát triển không những tỷ lệ mắc bệnh này cao mà còn gây tử vong cao [23], [28].
Như vậy VHHC ở trẻ em thực sự là vấn đề đáng quan tâm của nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Tình hình tại Việt Nam Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng từ 32-40 triệu lượt trẻ mắc VHHC và từ 22-24 nghìn trẻ tử vong do viêm phổi [10], [4]. VHHC chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số trẻ đến khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế. Hiện nay, tại cơ sở chữa bệnh từ tuyến Trung ương, tuyến tỉnh đến tuyến huyện đều quá tải do trẻ mắc VHHC vào điều trị.
Theo công bố năm 2014 của Bộ Y tế, các bệnh VHHC nằm trong 10 nhóm bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất và trong nhóm 10 bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất toàn quốc [7]. Tỷ lệ trẻ bị VHHC đến khám tại khoa hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2010 chiếm 55,97% tổng số trẻ đến khám bệnh nói chung [20].152 trẻ dưới 5 tuổi tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Cạn của tác giả Đàm Thị Tuyết năm 2006 cho thấy tỷ lệ mắc VHHC tại thời điểm nghiên cứu là 43,9%, trong đó chủ yếu là viêm hô hấp trên (36,1%) [23]. Mai Anh Tuấn (2008), cũng tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Cạn tỷ lệ mắc VHHC là 40,76% [21]. Tác giả Lý Chi Mai (2011) điều tra tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh nhận thấy tỷ lệ mắc VHHC là 36,5%, trong đó tỷ lệ mắc ở trẻ em dân tộc Khơme là 40,5% cao hơn hẳn so với tỷ lệ mắc ở trẻ em dân tộc Kinh (29,8%) [14].
Một số yếu tố liên quan đến viêm hô hấp cấp 1. Yếu tố thuộc về trẻ 1. Tuổi của trẻ Nghiên cứu tại tỉnh Bắc Kạn của tác giả Mai Anh Tuấn vào năm 2008 cho thấy tỷ lệ mắc VHHC tăng dần theo nhóm tuổi. Nhóm trẻ từ 12-35 tháng tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất: 45,02 % [21].
Một nghiên cứu khác do Đàm Thị Tuyết thực hiện vào năm 2010 cho kết quả là nhóm trẻ 36-60 tháng có tỷ lệ VHHC cao hơn nhóm trẻ 2 - <12 tháng [23]. Cân nặng khi sinh Hiện nay mỗi năm có khoảng 120 triệu trẻ em mới sinh, phần lớn ở các nước đang phát triển (85%), trong đó trẻ có cân nặng dưới 2500g vào khoảng 22 triệu (21 triệu ở các nước đang phát triển), tử vong phần lớn ở những trẻ này. Cân nặng khi sinh (CNKS) rất quan trọng vì nó xác định được khả năng thích nghi với môi trường mới xung quanh và phát triển của trẻ [19]. Nascimento và các cộng sự khi xác định các yếu tố nguy cơ gây viêm phổi ở trẻ em tại Brazil chỉ ra trẻ đẻ non tháng và trẻ có CNKS thấp sẽ có nguy cơ vào viện vì viêm phổi trong 1 và 2 năm đầu sau khi sinh [29].
Đàm Thị Tuyết và Nguyễn Thành Trung (2008), nghiên cứu nhóm trẻ có CNKS thấp dưới 2500g có tỷ lệ mắc VHHC 54,7% cao hơn nhóm trẻ có CNKS từ 2500g trở lên (40,6%) với p<0,05 [22]. Kết quả các nghiên cứu cho thấy chết do VHHC ở trẻ dưới 1 tuổi nếu khi sinh nặng dưới 2500g chiếm 2,64% của trẻ sống, trong khi nếu sinh nặng trên 2500g chỉ là 0,68% [16]. Suy dinh dưỡng SDD là một trong những yếu tố quan trọng trong VHHC.