CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN: LÍ THUYẾT TRƯỜNG NGHĨA VÀ VIỆC MIÊU TẢ TỪ VỰNG 1.1 LÍ THUYẾT VỀ TRƯỜNG NGHĨA VÀ TRƯỜNG TỪ VỰNG 1.1 Lí thuyết trường nghĩa Trong tiếng Hán, trường nghĩa còn có thể gọi là hệ thống nghĩa vị, hệ thống nghĩa vị lớn hơn và phức tạp hơn hệ thống ngữ âm và hệ thống ngữ pháp. Tuy nhiên, vào thời xưa, Huấn Hỗ học đã có những nhận thức sơ bộ đối với sự liên hệ và hệ thống của nghĩa chữ và nghĩa từ. Cuốn sách “Nhĩ Nhã” được nhiều người cùng nhau biên soạn từ thời Châu, thời Tần cho đến thời Hán, bao gồm 19 thiên: các chữ và từ được thu thập trong thiên 4 đến thiên 19 được phân loại về mặt nghĩa theo “thân, cung, khí, nhạc, thiên, địa, khâu, sơn, thủy, thảo, mộc, trùng, ngư, điểu, thú, súc”(Thích Thân: giải thích các cách xưng hô thân thuộc; Thích Cung: giải thích kiến trúc cung đình; Thích Khí: giải thích các vật dụng hàng ngày, ẩm thực, y phục; Thích Nhạc: giải thích về âm nhạc;Thích Thiên: giải thích về thiên văn, lịch pháp; Thích Địa: giải thích về địa lý, hành chính; Thích Khâu: giải thích về Khâu Lăng, cao địa; Thích Sơn: giải thích về núi; Thích Thuỷ: giải thích về sông ngòi; Thích Thảo: giải thích về hoa cỏ; Thích Mộc: giải thích về cây cối; Thích Trùng: giải 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thích về côn trùng; Thích Ngư: giải thích về cá; Thích Điểu: giải thích về chim; Thích Thú: giải thích về động vật; Thích Súc: giải thích về động vật.)Hơn nữa, trong những điều mục của các thiên trên đã thu thập một nhóm chữ có sự liên hệ chặt chẽ về mặt nghĩa, ví dụ như trong "Thích Khí" có câu “kim vị chi lũ, mộc vị chi khắc, cốt vị chi thiết, tướng vị chi tha, ngọc vị chi trác, thạch vị chi ma.”(có nghĩa là tuy đều là động tác gia công các loại vật dùng, nhưng dựa vào đối tượng khác nhau thì động từ cũng khác nhau: gia công vàng thì dùng từ "lũ", gia công gỗ thì dùng từ "khắc". Ngoài ra, trong thiên 1 – “Thích Hỗ” đã lập điều mục theo các chữ và từ đồng nghĩa và gần nghĩa, điều này chứng minh rằng người biên soạn đã biết khái niệm đồng nghĩa.
Trong “Nhĩ Nhã” có hiện tượng phản huấn, Quách Phác của thời Đông Tấn là người đầu tiên chú ý đến hiện tượng này. Trong “Nhĩ Nhã Chú” ông đã nêu rằng: “tứ” vừa có nghĩa là xưa, vừa có nghĩa là nay, xưa tức là nay, nay tức là xưa, nghĩa này tương phản và lại tương thông với nhau. Ngoài ra, ông Từ Khải trong thời Nam Đường trong “Thuyết Văn· Mộc Bộ” đã nhắc đến hiện tượng đa nghĩa. Ngữ nghĩa học truyền thống đối với vài mặt về sự liên hệ và hệ thống của nghĩa từ, đã có được những thành quả nghiên cứu, sự nghiên cứu này khá rõ ràng và tỉ mỉ, chủ yếu thể hiện ở các từ đồng nghĩa, trái nghĩa và đa nghĩa.
Trong một thời gian rất lâu, các học giả Trung Quốc đã áp dụng các luận điểm này tiến hành nhiều nghiên cứu đối với các hiện tượng liên quan trong tiếng Hán 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện đại, tiếng Hán cổ đại và các phương ngôn tiếng Hán, các luận điểm này không những có giá trị thảo luận, mà còn có giá trị thực dụng. Chúng đã đóng một vai trò rất quan trọng đối với các công tác như giảng dạy ngôn ngữ, viết, phiên dịch và biên soạn từ điển v. Nhưng chúng ta cũng phải nhận thức rằng, trong huấn hỗ học và ngữ nghĩa học truyền thống, sự nhận thức đối với sự liên hệ và hệ thống của nghĩa từ rất có hạn. Sự nhận thức của huấn hỗ học rất thô sơ, sự phân tích của ngữ nghĩa học truyền thống tuy tỉ mỉ và sâu sắc hơn, nhưng mặt nhắc đến cũng rất hẹp.
Trong hệ thống nghĩa vị, hiện tượng đồng nghĩa và trái nghĩa chiếm tỉ số rất có hạn, ngữ nghĩa học truyền thống hầu nhu khống có sự nghiên cứu gì đối với sự liên hệ phức tạp giữa các nghĩa vị. Về hệ thống nghĩa vị của ngôn ngữ, ngữ nghĩa học hiện đại có những giải thích rất có giá trị, đó là những lí luận về trường nghĩa. Humboldt sớm hơn Saussure, là người đặt nền móng của ngôn ngữ học đại cương, ông đã có quan niệm sơ bộ về trường nghĩa. Nhưng những nhà ngôn ngữ học Đức và Thụy Sĩ mới là những người đầu tiên nêu ra khái niệm trường nghĩa và tiến hành công việc nghiên cứu, trong đó nổi bật nhất là Trier.
Lí luận trường nghĩa của Trier được nêu ra trong những năm 30 thế kỷ XX. Ullmann cho rằng lí luận của Trier đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử của ngữ nghĩa học. Lí luận này sau đó do Trier và học sinh của ông ấy và L. Weisgerber phát triển.
Đến những năm 50, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chomsky nêu ra ngữ pháp tạo thành cải biến, những nhà ngôn ngữ học nhân loại ở Mỹ nêu ra cách phân tích nghĩa tố, việc nghiên cứu ngữ nghĩa ngày càng được coi trọng, lí luận trường nghĩa mới có được sự chú ý phổ biến. Hiện nay, lí luận trường nghĩa đã được phát triển rất lớn, nhiều nhà ngôn ngữ học Trung Quốc cũng áp dụng và phát triển những lí luận này để nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ trong tiếng Hán. Trường nghĩa là phạm vi những đơn vị từ vựng có quan hệ lẫn nhau về ý nghĩa, trong đó, đơn vị từ vựng có thể là một từ vị hay một đơn vị thành ngữ. Các đơn vị từ vựng trong một trường nghĩa phải có chung một thành tố nghĩa.
Ví dụ như ý nghĩa chung của 7 nghĩa vị từ “thứ hai” đến “chủ nhật” trong tiếng Hán hiện đại là chỉ chúng cùng nhau tạo thành một trường nghĩa biểu thị các ngày trong mỗi tuần, nghĩa tố mà chúng cùng nhau gồm có là “(trong 1 tuần) (ngày)”. Sự khác biệt giữa 7 nghĩa vị này là chúng bao gồm các nghĩa tố khác biệt từ ngày “(thứ nhất)” đến “(thứ bẩy)”v.v… Như vậy, các nghĩa vị trong một trường nghĩa bao gồm các nghĩa tố như nhau và khác nhau mà liên hệ với nhau, bao gồm ý nghĩa hệ thống, mà tạo thành một trường nghĩa, cùng nhau phản ánh một hệ thống của thế giới bên ngoài. Trường nghĩa của tiếng Hán đã là một sự phản ánh đối với tính hệ thống của thế giới bên ngoài, thì nó tất yếu phải phân chia thế giới bên ngoài. Sự phân chia này chủ yếu có hai tình hình.
Một là sự phản ánh trong ngữ nghĩa của một 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự phân loại vốn có nào đó trong thế giới bên ngoài, như tường nghĩa “vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc” là như vậy. Đây là mấy loại kim loại mà dân tộc Hán thường xuyên tiếp xúc, chúng được chia thành 5 loại là do tính chất của bản thân chúng quyết định, chúng ta không thể chia thành 6 loại hoặc 4 loại. Ngoài ra còn có một tình hình, sự phân chia trường nghĩa đối với sự vật, thường được xem xét từ nhận thức của con người, sự thuận tiện của giao tiếp và thói quen. Ví dụ hai nghĩa vị trong trường nghĩa “tốt, xấu” là được căn cứ vào ưu điểm nhiều hoặc khuyết điểm nhiều của sự vật và làm cho người ta hài lòng hoặc không hài lòng mà phân chia.
Thực ra theo tiêu chuẩn này chia thành hai là đơn giản nhất, chúng ta hoàn toàn có thể chia thành ba, bốn, năm, thậm chí chia thành đẳng cấp vô hạn. Ví dụ về nhiệt độ khác nhau, trong tiếng Hán dùng trường nghĩa tứ nguyên “nóng, ấm, mát, lạnh” để biểu thị. Sự phân chia này là tương đối và thuận tiện, còn có thể phân chia theo kiểu khác. Và trường nghĩa cũng rất phức tạp, có thể phân chia thành trường nghĩa thứ tự, trường nghĩa phân loại, trường nghĩa quan hệ v.2 Trường từ vựng và phân biệt trường nghĩa với trường từ vựng Lgor A Mel’cuk và một số nhà ngôn ngữ học khác phân biệt rõ trường nghĩa và trường từ vựng.
Các ông định nghĩa trường nghĩa như sau: trường nghĩa là tập hợp các đơn vị từ vựng có chung một thành tố nghĩa có giá trị nhận 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com diện một trường nghĩa. Muốn hiểu rõ định nghĩa trên, cần biết khái niệm đơn vị từ vựng. Theo các ông, đơn vị từ vựng có thể là một từ vị hay một đơn vị thành ngữ. Khái niệm trường từ vựng được định nghĩa như sau: trường từ vựng của một trường nghĩa là tập hợp các từ ngữ có những đơn vị từ vựng cơ sở cùng thuộc trường nghĩa này.
Đối với Mel’cuk, cách xử lí theo trường nghĩa là một trong những nguyên tắc cơ sở để biên soạn từ điển. Trong từ điển giải thích và kết hợp của ông, việc miêu tả các đơn vị từ vựng bắt buộc phải được thực hiện theo trường nghĩa hay trường từ vựng. Khi soạn thảo các mục từ điển, các trường và các từ ngữ cùng có vai trò như nhau: chúng bảo đảm việc xử lí mỗi đơn vị từ vựng trong sự đối chiếu với các đối tác “hàng ngang” (=trong các trường) và các đối tác hàng dọc (=trong các từ ngữ). Tuy nhiên, Mel’cuk và những người cùng làm việc với ông thừa nhận rằng khái niệm trường nghĩa không chặt chẽ như người ta tưởng.
Tính không chặt chẽ, theo các ông, thể hiện ở ba điểm sau đây: 1) Ranh giới không được xác định cụ thể 2) Các từ vị có thể thuộc về nhiều trường nghĩa. 3) Sự chồng chéo của các trường nghĩa Khái niệm trường từ vựng cần được định nghĩa như sau: Trường từ vựng của một trường nghĩa là tập hợp các từ ngữ có những đơn vị từ vựng cơ sở cùng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc trường nghĩa này. Ví dụ: trường nghĩa “bộ phận cơ thể” trong tiếng Hán có các từ như: 头(đầu),颈(cổ),肩(vai),腹(bụng),手(tay),脚(chân),. Mỗi từ vị nêu trên lại nằm trong một từ nhất định.
Từ “头(đầu)” gồm những từ vị sau: 1) Phần trên cùng của cơ thể con người hay bộ phận trước nhất của thân thể động vật; 2) Tóc hay kiểu tóc; 3) Phần trước nhất hoặc phần trên cùng của sự vật; 4) Điểm xuất phát của một việc nào đó; 5) Phần còn lại của vật thể; 6) Trước đây, ở phía trước; 7) Thứ tự ở trước, thứ nhất; 8) Thủ lãnh; 9) Mặt; 10) gần, sắp; 11) Lượng từ, thường dùng để chỉ gia súc; 12) Khoảng, hoặc số lượng không xác định. Từ “颈(cổ)” gồm những từ vị sau: Phần nối liền đầu và thân của cơ thể, hoặc chỉ phần như cổ của sự vật.