CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG MÁY GIA TỐC CYCLOTRON 30MEV 1. Lịch sử phát triển và phân loại máy gia tốc 1. Lịch sử phát triển của máy gia tốc Cyclotron được phát triển vào năm 1930 bởi E.Lorentz để gia tốc các ion (proton, deuteron, các ion nặng hơn) tới động năng cỡ vài chục MeV.Lorentz nhận ra rằng muốn giữ tần số góc của hạt tích điện (ω = qB/m) chuyển động trong quỹ đạo tròn của cyclotron không đổi, cần từ trường B tăng dần theo bán kính quĩ đạonhằm giải quyết hiệu ứng tương đối xảy ra làm tăng khối lượng khi gia tốc hạt. Tuy nhiên, tăng B theo bán kính quĩ đạo lại mâu thuẫn với yêu cầu về hội tụ chùm hạt.
Để giải quyết vấn đề này L. Thomas đã đưa ra ý tưởng thiết kế từ trường thay đổi hình sin theo góc phương vị sẽ làm cho hạt hội tụ theo chiều đứng. Thế hệ cyclotron với các sector (hình quạt) riêng biệt hội tụ hạt nhờ từ trường thay đổi theo góc phương vị dưới dạng xoắn được ra đời vào nhưng năm 50 của thế kỷ XX, càng về sau năng lượng gia tốc càng tăng, ban đầu là vài MeV, đến vài chục MeV rồi hàng trăm MeV. Phân loại máy gia tốc Chúng ta có thể phân chia máy gia tốc theo các loại khác nhau dựa trên các hạt được gia tốc, quỹ đạo của hạt được gia tốc, tính chất của điện, từ trường gia tốc hoặc năng lượng mà hạt được gia tốc.
Phân loại máy gia tốc theo hạt Không phải máy gia tốc nào cũng có thể gia tốc các hạt có khối lượng khác nhau. Từ hệ thức Anhxtanh: E=mc 2 (1.1) 2 Trong đó: E - năng lượng của hạt m - khối lượng của hạt c - tốc độ ánh sáng Ta nhận thấy khi năng lượng tăng sẽ dẫn đến khối lượng tăng do đó thời gian hạt đi được một vòng trong máy gia tốc tăng lên làm mất đồng bộ với điện trường gia tốc. Điều này thể hiện rõ nhất đối với các hạt nhẹ. Do đó có những loại máy chỉ gia tốc được những hạt nhẹ hoặc chỉ gia tốc được những hạt nặng.Máy gia tốc hạt nặng Ví dụ các hạt proton, deuteron, anpha và ion nặng được gia tốc bằng các máy gia tốc Cyclotron, Walton – Cockroft, Van De Graaff, máy gia tốc thẳng, Synchrotron, Phasotron và Synchrophasotron.
Máy gia tốc hạt nhẹ Hạt được gia tốc là điện tử, việc gia tốc được thực hiện bằng máy gia tốc thẳng, Betatron, Microtron, Synchrotron, Phasotron và Synchrophasotron. Máy gia tốc cả hạt nặng lẫn nhẹ Walton – Cockroft, Van De Graaff và máy gia tốc thẳng. Phân loại theo quỹ đạo chuyển động của hạt Trong quá trình được gia tốc hạt có thể chuyển động theo quỹ đạo thẳng hoặc quỹ đạo tròn. Trên cơ sở tính chất của quỹ đạo người ta phân ra các loại máy gia tốc như: a.
Máy gia tốc quỹ đạo thẳng Bao gồm các máy gia tốc Walton – Cockroft, Van De Graaff và máy gia tốc thẳng. Máy gia tốc quỹ đạo tròn Bao gồm Cyclotron, Phasotron (trong các loại máy gia tốc này hạt chuyển động theo đường xoáy trôn ốc từ tâm ra ngoài với bán kính ngày càng tăng), Synchrotron, Synchrophasotron (trong các máy gia tốc này hạt chuyển động theo quỹ đạo tròn có bán kính không đổi) và Microtron (trong máy gia tốc này hạt chuyển động theo các đường tròn có bán kính ngày càng tăng và luôn luôn tiếp xúc với nhau tại một điểm). Phân loại theo tính chất trường gia tốc Trong các máy gia tốc, như ta sẽ thấy, các hạt có thể được gia tốc nhờ vào điện trường một chiều, điện trường biến thiên hoặc từ trường biến thiên. Vì vậy ta có thể phân loại máy gia tốc như sau: a.
Máy gia tốc tĩnh điện (điện trường một chiều) Bao gồm các máy gia tốc Walton – Cockroft, Van De Graaff và Tandem Van De Graaff. Máy gia tốc điện trường xoay chiều Bao gồm Cyclotron, Synchrotron, Phasotron, Synchrophasotron, Microtron và máy gia tốc thẳng. Điều đáng chú ý là trong các máy gia tốc này hạt được gia tốc nhờ vào sự cộng hưởng giữa điện trường gia tốc và sự chuyển động của hạt. Máy gia tốc từ trường biến thiên Đó là máy gia tốc điện tử Betatron.
Trong máy gia tốc này điện tử được gia tốc không phải nhờ điện trường biến thiên mà từ trường có từ thông biến thiên. 4 Phân loại theo năng lượng của hạt được gia tốc Các máy gia tốc có thể gia tốc hạt đến những năng lượng giới hạn khác nhau. Trên cơ sở năng lượng của hạt được gia tốc chúng ta có thể phân loại máygia tốc như sau: a. Máy gia tốc phi tương đối Bao gồm các máy gia tốc chỉ đưa năng lượng hạt đến những giá trị mà tại đó tốc độ của nó nhỏ hơn rất nhiều so với tốc độ ánh sáng (hoặc khối lượng của hạt không lớn hơn nhiều so với khối khối lượng dừng).
Ví dụ: Máy gia tốcWalton – Cockroft, Van De Graaff và Cyclotron. Máy gia tốc tương đối Bao gồm các máy gia tốc trong đó tốc độ của hạt lên đến gần tốc độ ánh sáng.Ví dụ: Máy gia tốc thẳng, Betatron, Synchrotron, Phasotron, Synchrophasotron, Microtron. Trong nhiều trường hợp người ta còn gọi các máy này là siêu tương đối tính vì tốc độ của hạt rất gần với tốc độ ánh sáng. Hệ thống máy gia tốc Cyclotron 30MeV 1.
Nguyên lý cấu tạo và hoạt động của Cyclotron 30MeV Máy gia tốc Cyclone 30 (tên riêng của máy cyclotron 30 MeV của IBA) là máy gia tốc vòng có tần số cố định, trường không đổi, gia tốc H - tới năng lượng 30 MeV. Năng lượng chùm ion chiết (beam) có thể thay đổi từ 15 đến 30 MeV với cường độ 350μA.1 dưới đây sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quan về cấu tạo máy gia tốc 30 MeV của IBA .1 Cấu tạo của Cyclone 30 Trong đó: Multicusp ion source: Nguồn ion multicusp Buncher: Bộ gom hạt Magnetic lens: Thấu kính từ trường Inflector: Bộ lái tia Aluminium vacuum: Buồn chân không Solid copper dees: Các D đồng 6 Stripper probe positioning system: Hệ thống định vị lá stripper (carbon foil) Port selection magnets: Từ trường lựa chọn cổng ra chùm proton Exit ports: Các cổng ra chùm proton Các hệ thống con quan trọng cấu thành cyclotron: a. Hệ thống nguồn Ion Khoang gia tốc gia tốc ion H-, muốn có ion H- ta phải tạo ra nó và đưa vào chính giữa mặt trung tuyến của khoang. Máy Cyclone 30 sử dụng nguồn ngoài model Injector S4/3N, gồm bộ phận tạo ra H - hoặc H2- ghép với phần gia tốc 30KV, được thiết kế riêng cho cyclotron 30MeV của IBA.
Nguồn có thể phát ra dòng H- 7mA theo dạng chùm chuẩn trực. S4/3N là nguồn ion dạng multicusp, có thiết kế tối ưu để sản xuất các ion âm. Phản ứng tạo ra ion trong nguồn là: H *2(υ ≥ 5) + e → H- + H (1.2) Trong đó: H*2 (υ ≥ 5) là phân tử hydro kích thích ở trạng thái 5 hoặc cao hơn. H- có năng lượng liên kết 0,75eV, vì thế dễ dàng bị phá hủy bởi các e plasma có năng lượng lớn hơn 1eV.2 Nguồn Culham S4/3N 7 Hình 1.3 Sơ đồ nguồn ion Một hàng nam châm được sắp xếp để cung cấp từ trường tầm xa qua nguồn, song song theo chiều ngắn nhất.
Trường này gọi là trường lọc và nó chủ yếu để tạo các điều kiện plasma, cho phép sự hình thành các ion âm. Sự định hướng của trường này liên quan tới từ trường trong máy gia tốc, rất cần thiết cho hoạt động chính xác của nguồn phát ion. Cấu trúc điện cực của lưới plasma phức tạp hơn so với hai lưới kia vì nó chứa lỗ hổng chiết (extraction aperture) cho nguồn. Điện cực được tạo thành từ 2 phần: phần ngoài, chứa các nam châm vĩnh cửu, phần trong, chứa lỗ hổng chiết.
Phần trong được cách điện bởi đệm mica. Sự sắp xếp này cho phép phần trong có điện thế dương so với phần ngoài và lưới còn lại để triệt tiêu electron bắn ra cùng với các ion âm. Điện cực lưới thứ hai dài 20mm và đóng vai trò bắt electron. Từ trường ở cuối của lưới ngăn các electron thoát qua lỗ hỗng phía sau.
Chúng được giữ ở bề mặt bên trong của điện cực. Điều này chỉ có ở điện cực chứa nhiều hơn một cặp nam châm vĩnh cửu và phải lưu ý đảm bảo rằng hướng của chúng là chính xác. Từ trường trong điện cực thứ ba tại điện thế đất nắn quỹ đạo cong của ion âm cho tới khi chúng song song với trục của chùm. 8 Bản chất của sự phóng plasma và cơ chế hình thành ion H- hay hiệu suất của nguồn phát phụ thuộc vào nhiều thông số.
Có 5 thông số có thể thay đổi đầu ra của nguồn phát ion S4/3N là: • Dòng arc - hồ quang điện (dòng sợi đốt) • Điện áp arc - hồ quang điện • Dòng khí • Điện áp triệt tiêu electron • Điện áp lưới triết Dòng arc (hồ quang điện) Là thông số điều khiển chính của mật độ plasma trong nguồn. Nó được sinh ra do sự phát các e từ sợi đốt có nhiệt độ cao và được điều khiển bởi giá trị điện áp arc (hồ quang điện) và dòng điện cho sợi đốt. Với điện áp arc không đổi, tăng dòng sợi đốt sẽ tăng dòng arc vì vậy tăng mật độ plasma. Với dòng dưới 45A, sợi đốt phát không đáng kể, do đó dòng hồ quang điện bằng không.
Ban đầu, dòng H - tăng tuyến tính với dòng arc do mật độ plasma tăng nhưng sẽ tới thời điểm bão hòa. Điều này do sự cân bằng giữa H 2* tạo ra và mất đi trong plasma. Một phần phân tử bị kích thích có xu hướng chuyển về trạng thái bão hòa với mật độ tăng nhưng hiệu ứng này được bù do mối quan hệ tuyến tính giữa mật độ ion âm và mật độ ion dương trong vùng chiết. Vì vậy, đặc tính của nguồn phụ thuộc vào tính chất vật lý của việc di chuyển qua trường lọc.4 Dòng arc Điện áp hồ quang điện Ảnh hưởng của điện áp arc chỉ ra ở hình 1.
Điện áp arc cấp giữa sợi đốt và nguồn, nó gia tốc các e phát ra từ sợi đốt thành plasma. Do vậy, điện áp arc càng cao, năng lượng các e càng cao và nhiệt độ của chúng tăng, làm tăng tốc độ phân tử bị kích thích được tạo ra trong vùng lái. Nhiệt độ e tăng cũng làm tăng dòng e theo cách giống như dòng arc. Cuối cùng dòng H- sẽ bão hòa hoặc thậm chí là giảm do sự tăng nhiệt độ của các e.5 Điện áp arc 10 Dòng khí Để xác định áp suất trong nguồn, có ảnh hưởng tới dòng e và H- như chỉ ra trên hình 1.
Khí trong nguồn chỉ vài phần trăm bị ion hóa, vì thế hầu như các va chạm là với phân tử trung tính.