CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về mụn trứng cá Mụn trứng cá được mô tả sớm nhất trong các văn bản Hy Lạp cổ đại thời Byzantine của thầy thuốc Aetius Amidenus. Từ “acne” xuất phát từ từ acme trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “điểm” hoặc “tại chỗ”, acme viết sai thành acne và được sử dụng đến ngày nay (Tabasum et al.
Mụn trứng cá là bệnh viêm da mãn tính, phổ biến nhất ở lứa tuổi thanh thiếu niên với các biểu hiện lâm sàng: có nhiều bã nhờn, mụn trứng cá đỏ, mụn mủ, nốt, nang (Kataria and Chillar, 2015). Phân loại mụn trứng cá Dựa vào triệu chứng lâm sàng, mụn trứng cá được chia thành ba dạng (Bộ Y Tế, 2015): - Mụn trứng cá thể thông thường (acne vulgaris): Mụn đầu trắng, đầu đen, sẩn, mụn mủ, mụn bọc hay ổ áp xe. Vị trí thường gặp là ở mặt, trán, cằm, má, phần trên lưng, trước ngực, ít khi xuống quá thắt lưng. - Mụn trứng cá nặng: Mụn trứng cá dạng cục, kén, bọc, mụn trứng cá tối cấp (còn gọi là mụn trứng cá bọc cấp tính, mụn trứng cá có sốt và loét).
- Các thể lâm sàng khác: Mụn trứng cá trẻ sơ sinh, mụn trứng cá do thuốc, mụn trứng cá muộn ở phụ nữ, mụn trứng cá do hóa chất. Dựa vào hình ảnh và số lượng tổn thương ở nửa khuôn mặt có thể chia bệnh thành bốn cấp độ (Hình 1.1) (Hayashi et al., 2008): - Nhẹ: từ 0 - 5 nốt viêm - Trung bình: từ 6 - 20 nốt viêm - Nặng: từ 21 - 50 nốt viêm - Rất nặng: trên 50 nốt viêm 4 luan an Hình 1.1: Mô hình các dạng mụn trứng cá (Shear, 2011) 1. Cơ chế gây mụn trứng cá Sinh bệnh học của mụn trứng cá thường liên quan đến các yếu tố nội sinh, ngoại sinh nhưng rõ nhất là liên quan đến bốn yếu tố (Tahir, 2010; Chandersekar, 2013): - Tăng sản xuất chất nhờn, - Tắc nghẽn lỗ chân lông, - Phát triển quá mức của vi khuẩn P. acnes, - Phản ứng viêm.
Tăng sản xuất chất nhờn Trong mỗi nang lông ở da có một túi nhỏ gọi là tuyến bã nhờn. Tuyến này có ở khắp nơi trên cơ thể nhưng có nhiều ở trán, cằm và lưng, ít ở tay hoặc chân, không có ở lòng bàn tay và lòng bàn chân.Tuyến bã nhờn có nhiệm vụ sản xuất chất nhờn giúp giữ ẩm và làm cho da, lông trở nên mềm mại (Makrantonaki and Cranceviciene, 2011). Đến tuổi dậy thì, với sự hoạt động của hormon androgen, đặc biệt là testosteron kích thích tuyến bã nhờn và tế bào sừng (keratinocyte) sản xuất nhiều chất nhờn. Vì lý do nào đó, chất nhờn phóng thích ra ngoài bị hạn chế sẽ tích tụ và hình thành nhân mụn trứng cá có thể nhìn thấy dưới da gọi là mụn đầu trắng (whitehead) hoặc lộ ra ngoài là mụn đầu đen (blackhead) (Preston et al., 2001; Makrantonaki and Cranceviciene, 2011).
Tắc nghẽn lỗ chân lông Sự tắc nghẽn lỗ chân lông xảy ra do rối loạn sự bong tróc của tế bào biểu mô ở nang lông. Các tế bào này trở nên to và kết chặt lại hình thành những lớp dày, mỏng một cách bất thường ở cổ nang lông gây cản trở sự phóng thích của chất nhờn (Thiboutot, 2009). Phát triển quá mức của vi khuẩn P. acnes Vi khuẩn P.
acnes là một cư dân bình thường trên da, cư trú chủ yếu ở các vùng có nhiều tuyến bã. Khi cơ thể đến tuổi trưởng thành, tuyến nội tiết hoạt động kích thích sự tăng hoạt động của tuyến bã, tiết nhiều chất nhờn, đây là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn này phát triển. acnes phát triển làm thay đổi cân bằng của hệ vi sinh vật tại các vị trí này, đồng thời tiết ra các enzym như lipase, protease, hyaluronidase,. làm tổn thương các mô của tuyến và nang lông.
Khi các mô bị tổn thương sẽ kích thích các yếu tố miễn dịch, sản sinh các cytokin và phản ứng viêm xảy ra dẫn đến sự hình thành mụn trứng cá (Bru¨ggemann, 2010; Jahns et al., 2012; Kasimatis et al. Phản ứng viêm Sự hiện diện của P. acnes và các sản phẩm do vi khuẩn tiết ra đã kích thích sự hoạt động của hệ thống miễn dịch. Các bạch cầu, đặc biệt là tế bào Langerhan ở dưới da có khả năng bắt giữ và tiêu diệt kháng nguyên theo cơ chế thực bào.
Quá trình tiêu diệt kháng nguyên của đại thực bào đã gây ra hiện tượng viêm như: sưng, đỏ, đau ở xung quanh lỗ chân lông. Phản ứng viêm xảy ra tiếp tục thu hút bạch cầu đến và vùng viêm lan rộng hơn, các mụn, sẩn đỏ đau, nốt sần, mụn mủ xuất hiện gọi là mụn trứng cá (Preston et al., 2001; Jeremy et al. Vi sinh vật bội nhiễm ở mụn trứng cá Trên bề mặt da bình thường luôn tồn tại một hệ vi sinh vật ở trạng thái cân bằng bao gồm vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng chân đốt không gây hại đến ký chủ (Schommer and Crallo, 2013). Sự đa dạng về chủng loại của hệ sinh thái này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: vị trí ký sinh trên cơ thể, yếu tố nội sinh của từng người và yếu tố môi trường ngoài (Schommer and Crallo, 2013).
Qua phân tích tính đa dạng hệ vi sinh vật da, đặc biệt là vi khuẩn, cho thấy có ít nhất 19 ngành và bộ vi khuẩn khác nhau, các ngành và bộ chính gồm Actinobacteria (51,8%), Firmicutes (24,4%), Proteobacteria (16,5%) và Bacteroidetes (6,3%) (Grice et al. Phần lớn các chi được xác định là Corynebacterium, Propionibacterium và Staphylococcus (Grice et al. Sự phong phú của mỗi nhóm vi khuẩn phụ thuộc nhiều vào vị trí ký sinh trên 6 luan an cơ thể. Ví dụ, các vị trí có nhiều tuyến bã nhờn như mặt, lưng thì chủ yếu là Propionibacterium sp và Staphylococcus sp, ở những nơi ẩm như nách, bẹn, mũi thì chi Corynebacterium chiếm ưu thế.
Ngược lại, ở những vị trí như gót chân hay vùng khô ráo khác thì phổ biến là β-Proteobacteria và Flavobacteriales (Hình 1.3) (Grice et al., 2009; Grice and Segre, 2011).2: Mô hình hệ vi sinh vật da (Grice and Segre, 2011) Hình 1.3: Sự đa dạng của hệ vi sinh vật da trên mỗi vị trí cơ thể (Grice and Segre, 2011) Trên da bình thường, hệ vi sinh vật có khả năng hỗ trợ da chống lại sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh từ ngoài thông qua hành vi kích thích miễn dịch bẩm sinh của da (Grice and Segre, 2011). Tuy nhiên, khi có sự thay đổi về mặt sinh thái như sự tăng sản xuất chất nhờn đã tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn Propionibacterium sp đặc biệt là P. acnes phát triển mạnh, làm thay đổi sự cân bằng của hệ vi sinh vật tại những vùng có nhiều tuyến nhờn, đồng 7 luan an thời sản xuất các yếu tố gây tổn thương các mô và kích thích phản ứng viêm. Khi tổn thương mô quanh nang lông xảy ra, hàng rào bảo vệ của da suy giảm chính là cơ hội tốt cho nhiều vi khuẩn khác tấn công như nhóm Staphylococcus sp (Bru¨ggemann, 2010; Lo et al., 2011; Jahns et al.
Vi khuẩn Propionibacterium acnes 1. Đặc tính sinh học và khả năng gây bệnh Vi khuẩn P. acnes thuộc họ Propionibateriaceae, Bộ Actinomycetales, Ngành Actinobacteria là vi khuẩn Gram dương, hình que, tế bào có đường kính 0,5-0,8 m và dài 3-4 m (Hình 1.4), không sinh bào tử, kỵ khí, có khả năng sản xuất acid propionic, khử nitrat, dịch hoá gelatin, catalase và indol dương tính. Khuẩn lạc phát triển chậm khoảng 4 ngày sau khi cấy, trên môi trường phân lập TYEG (Trypticase-Yeast Extract-Glucose) có bổ sung bromocresol purple khuẩn lạc màu vàng đục, mô cao, đường kính 0,5-2,5 mm (Stackebrandt et al.4: Tế bào vi khuẩn P.
acnes (Bru¨ggemann, 2010) Dựa vào phản ứng ngưng kết huyết thanh, đặc điểm sinh hóa và phân tích di truyền, P. acnes được chia thành các type I (IA và IB), II, III (Hình 1.5) (McDowell et al. - Type I: Nhóm vi khuẩn có khả năng tán huyết dạng , sản xuất lipase, lecithinase, proteinase và hyaluronidase. - Type II: Nhóm vi khuẩn không gây tán huyết dạng , sản xuất lipase, lecithinase, proteinase và hyaluronidase.
- Type III: Nhóm vi khuẩn không sản xuất acid từ lactose, xylose, maltose, arabinose, cellobiose, melezitose, âm tính với urease và - glucosidase, dương tính với catalase, arginine dihydrolase, tiết ra lipase, gây tán huyết dạng . 8 luan an Hình 1.5: Cây phát sinh loài của vi khuẩn P. acnes (McDowell et al., 2008) Trước đây, P. acnes được xem là cư dân của hệ vi sinh vật da không gây bệnh, nhưng trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về đặc tính di truyền cho thấy P.
acnes có liên quan đến một số bệnh nhiễm trùng như: viêm nội tâm mạc, viêm tuyến tiền liệt, viêm phổi, viêm tủy xương; .và đặc biệt là mụn trứng cá (Bru¨ggemann, 2010). Cơ chế gây bệnh của P. acnes được chứng minh là do khả năng sản xuất các enzym liên quan đến sự phá hủy tế bào ký chủ như: sialidase và neuraminidase tạo độ kết dính và sinh độc tố, lipase tiêu hóa chất nhờn, hyaluronan có khả năng thu hút đại thực bào và tế bào đuôi gai kích thích mạnh mẽ phản ứng viêm, CAMP (Christie-Atkins- Munch-Peterson) là yếu tố quyết định gây bệnh. Ngoài việc tiết ra các sản phẩm phá hoại tế bào ký chủ, cấu trúc màng tế bào của vi khuẩn gần một nửa là lipoglycan và protein màng có hình móc câu giúp cho vi khuẩn thích nghi với khả năng bám dính vào ký chủ hoặc dụng cụ y tế và chống lại sự miễn dịch (Bru¨ggemann, 2010).
Khả năng đề kháng kháng sinh của P. acnes Hiện tượng đề kháng kháng sinh của P. acnes đã được nghiên cứu rất lâu và khả năng kháng thuốc đã và đang phát triển đến mức báo động. Năm 1976 chưa phát hiện sự kháng thuốc của P.
acnes, nhưng chỉ ba năm sau, năm 1979 bắt đầu phát hiện kháng erythromycin và clindamycin dạng bôi và tiếp theo là tetracyclin (Crawford et al. Từ kết quả nghiên cứu của Ross và cs (2003) cho thấy P. acnes có khả năng đề kháng cao với erythromycin và 9 luan an clindamycin ở các nước Địa Trung Hải như: Tây Ban Nha tỷ lệ kháng erythromycin và clindamycin lần lượt là 91% và 92,4%; Hy Lạp là 75,3% và Italia là 59,5% (Ross et al. Các loại kháng sinh điều trị mụn trứng cá phổ biến như ampicilin, erythromycin, roxithromycin, clindamycin được khuyến cáo không sử dụng điều trị kéo dài quá 3 tháng (Nishijima et al.
Đến năm 2011, khoảng 93,1% kháng với tetracyclin, 84,5% kháng với erythromycin và 69% kháng với cotrimoxazol, 31% vi khuẩn P. acnes phân lập từ các bệnh nhân mụn trứng cá kháng ít nhất một loại kháng sinh được dùng trong điều trị (Zandi et al. Tại Việt Nam, qua khảo sát khả năng đề kháng kháng sinh của P.