MỞ ĐẦU Alginate là một anion polysaccharide, phân bố rộng rãi trong thành tế bào của rong nâu và một số loài vi khuẩn, bao gồm cả Pseudomonas aeruginosa và Azotobacter vinelandii [1]. Đây là polysaccharide dị trùng hợp bao gồm hai axit uronic: α-L-guluronic (G) và β-D-mannuronic (M) sắp xếp với nhau thành các khối β-D-mannuronate (poly M), α-L-guluronate G (poly G) và heteropolymer (polyMG), các uronic acid này được liên kết với nhau thông qua liên kết 1,4-glycosidic [1], [2]. Alginate đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm do các đặc tính vật lý độc đáo của nó là tạo thành gel. Trong khi đó, rong nâu được xem là nguồn nguyên liệu chính để điều chế và chiết xuất alginate.
Ở rong nâu hàm lượng alginate chiếm tỷ lệ lên đến 40 % và có khối lượng phân tử (KLPT) lớn. Ở dạng muối alginate bán trên thị trường có KLPT từ 30.000 Da, độ nhớt cao nên nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu điều chế alginate KLPT thấp với mục đích tăng khả năng ứng dụng trong lĩnh vực y dược cũng như trong việc nghiên cứu cấu trúc và hoạt tính sinh học của chúng[2], [3]. Alginate KLPT thấp (alginate oligosaccharide) được điều chế bằng các phương pháp hóa học, vật lý hoặc phương pháp sinh học. Trong đó, việc sử dụng các enzyme cắt mạch alginate được xem là “phương pháp xanh” do hạn chế sử dụng hóa chất, sản phẩm alginate KLPT thấp không có độc tính sản phẩm tạo ra được kiểm soát bởi đặc tính xúc tác của enzyme.
Alginate lyase là enzyme có khả năng xúc tác cắt mạch alginate bằng sự khử liên kết glucoside để tạo ra các oligo alginate. Vi khuẩn biển là nguồn chính để thu nhận enzyme vì có nhiều ưu điểm vượt trội về chất lượng cũng như khả năng sản xuất alginate lyase [4]. Một số chủng vi khuẩn có thể kể đến: gram dương là Bacillus circulans và gram âm là Azotobacter vinelandii, Klebsiella aerogens, Klebsiella pneumonia, Pseudomonas maltophilia, Pseudomonas putida, Pseudomonas aeruginosa đã được nghiên cứu cho sản xuất alginate lyase [5]. Vi khuẩn là sinh vật có khả năng sinh sản nhanh, phát triển mạnh, thích ứng tốt với điều kiện công nghiệp.
Môi trường dinh dưỡng 6 để nuôi vi khuẩn đơn giản, dễ kiếm. Do đó, enzyme thu được từ việc nuôi vi khuẩn sẽ nhanh hơn, giá thành rẻ hơn. Các chủng vi khuẩn biển có khả năng sinh alginate lyase chủ yếu được phân lập từ bộ phận tiêu hóa của động vật biển như cầu gai, san hô mềm, những loài động vật hai mảnh vỏ, nước biển và hải miên [6]. Sở dĩ được tìm kiếm ở những vật chủ như vậy vì đây là những loài sử dụng rong tảo làm thức ăn, hệ vi sinh vật đường ruột những loài này luôn có một hoặc một hệ vi khuẩn sinh alginate lyase để hỗ trợ chuyển hóa thức ăn.
Một nguồn phân lập vi khuẩn biển sinh alginate lyase khác chính là vi khuẩn cộng sinh với rong nâu bởi vì alginate là thành phần chủ yếu trong cấu tạo thành tế bào rong nâu. Đã có những công bố về các chủng vi khuẩn biển cộng sinh với rong nâu có khả năng sinh alginate lyase như Pseudoalteromonas elyakoii IAM 14594 phân lập từ rong Laminaria japonica [7], Pseudoalteromonas sp. SM0524 phân lập tảo bẹ trong giai đoạn phân hủy [8]. Do đó, nguồn rong nâu là nguồn tiềm năng để tìm kiếm vi khuẩn biển sinh alginate lyase.
Ở Việt Nam, rong nâu với khả năng có thể tự tái tạo trong tự nhiên và sản lượng có thể khai thác lên tới 10.000 tấn khô/năm nên rong nâu là nguồn lợi rong biển tự nhiên lớn nhất [9]. Các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy trong các loài rong nâu ở vùng biển Việt Nam, hàm lượng alginate lên đến 35% và có cấu trúc phức tạp theo 3 dạng cấu trúc block gồm: block M, block G và block MG sắp xếp khác nhau tùy vào từng loài rong [9]. Trong khi đó, alginate lyase thương mại giá thành cao và xúc tác không hiệu quả lên alginate của rong nâu Việt Nam. Vì vậy, khả năng ứng dụng enzyme thương mại vào việc điều chế alginate KLPT thấp ở Việt Nam là khó khăn nên việc nghiên cứu enzyme chuyển hóa alginate từ rong nâu Việt Nam vẫn là cần thiết.
Do vậy, đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu phân lập và sàng lọc các chủng vi khuẩn từ rong biển có khả năng sinh enzyme chuyển hóa alginate từ rong nâu Việt Nam” được tiến hành nhằm tìm ra được chủng vi khuẩn biển tiềm năng có khả năng sinh alginate lyase có hoạt tính trên cơ chất alginate chiết xuất từ rong nâu vùng biển Việt Nam. 7 Mục tiêu của đề tài: Tìm và định danh được chủng vi khuẩn có nguồn gốc từ rong biển, có khả năng sinh alginate lyase. Xác định khả năng bẻ ngắn mạch alginate của enzyme thu nhận được trên cơ chất alginate chiết xuất từ rong nâu Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu: Các chủng vi khuẩn có khả năng sinh alginate lyase được phân lập từ rong nâu thu nhận ở vùng biển Khánh Hòa - Phạm vi nghiên cứu: Khả năng sinh alginate lyase trên cơ chất alginate chiết xuất từ rong nâu Việt Nam như các loài rong thuộc chi Sargassum và Turbinaria.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Tìm kiếm các chủng vi khuẩn biển sinh alginate lyase có hoạt tính cao nhằm điều chế alginate KLPT thấp là cách tiếp cận mới có ý nghĩa khoa học cao bên cạnh các phương pháp hóa lý điều chế alginate KLPT thấp. Alginate lyase từ vi khuẩn biển cắt mạch alginate theo đặc hiệu cơ chất, từ đó định hướng tạo ra các sản phẩm alginate KLPT thấp có hoạt tính sinh học ứng dụng trong các lĩnh vực thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm, y tế. Các nội dung nghiên cứu chính: Để thực hiện được mục tiêu đề ra, các nội dung nghiên cứu của luận văn bao gồm: - Phân lập các chủng vi khuẩn từ các loài rong nâu thu thập được ở vùng biển Khánh Hòa. - Sàng lọc và tuyển chọn các chủng vi khuẩn từ các loài rong nâu thu thập được ở vùng biển Khánh Hòa theo định hướng sinh alginate lyase.
- Định danh các chủng vi khuẩn tuyển chọn. - Xác định khả năng bẻ ngắn mạch alginate của enzyme thu nhận từ chủng vi khuẩn tuyển chọn. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ ALGINATE 1.
Giới thiệu chung alginate 1. Nguồn gốc và cấu trúc của alginate Alginate là thuật ngữ chung để nói đến alginic acid, muối và dẫn xuất của nó. Trong tự nhiên alginate tồn tại chủ yếu ở rong nâu, là thành phần cấu trúc của thành tế bào rong nâu (phaeophyceae), ngoài ra còn có ở vi khuẩn như Pseodomonas, Azotobacter,… (Hình 1. Ở vi khuẩn, alginate là polyme duy trì sự ổn định của màng sinh học và thành tế bào nhằm chống lại sự bất lợi của môi trường như độc tính của kim loại nặng.
Sản xuất và sử dụng alginate trên thị trường chủ yếu được chiết xuất từ rong nâu vì sinh khối alginate chiếm tỷ lệ cao lên đến 40% trọng lượng khô của rong nâu và thường tồn tại dạng muối natri alginate, KLPT alginate từ 30. Năm 1883, Stanford đã khám phá ra alginate từ tảo bẹ, ông đã phát triển quy trình chiết xuất kiềm từ vật liệu có độ nhớt gọi là “Algin” [10]. Alginate Rong nâu Vi khuẩn Macrocystis Sagassum Laminaria Azotobacter Pseodomonas Hình 1. Nguồn gốc alginate Alginate được tạo thành bởi các monosaccharide β-D-mannuronic acid (M) và α-L-guluronic acid (G) thông qua liên kết thành từ liên kết (1→4) 9 glycoside (hình 1.
Trong phân tử alginate tỷ lệ, trình tự và sự phân bố của hai monomer thay đổi rất rộng tùy theo nguồn gốc của alginate. Sự sắp xếp ngẫu nhiên của 2 monomer M và G trong mạch alginate theo 3 dạng cấu trúc block: Block homopolymeric guluronic (Poly-G) gồm các gốc acid guluronic nối tiếp nhau; Block homopolymeric mannuronic (Poly-M) gồm các gốc acid mannuronic nối tiếp nhau; Block heteropolymeric ngẫu nhiên (Poly-MG) hai gốc acid guluronic và acid mannuronic luân phiên nối tiếp nhau (hình 1. Độ dài trung bình của các khối, trình tự của chúng trong mạch phân tử cũng thay đổi tùy theo nguồn gốc của alginate. Do cấu trúc của các gốc monomer G và M khác nhau nên hình dạng của các khối cũng khác nhau: Poly M có cấu tạo ít gấp khúc và tạo nên sự mềm mại của mạch phân tử, trong khi poly G gấp khúc mạnh hơn và có độ bền chặt hơn.
Chính sự khác nhau của mạch cấu trúc này nên hai loại uronic thể hiện các tính chất hóa học, sinh học khác nhau [16]. Cấu trúc các β-D-mannuronic acid (M), α-L-guluronic acid (G) của phân tử alginate [16] 10 Hình 1. Cấu trúc của các block và liên kết (1→4) glycoside giữa các uronic của phân tử alginate [16] Hiện tại alginate được sử dụng trên thị trường có độ đồng nhất về mặt lý hóa thấp, điều này làm ảnh hưởng đến chất lượng và hạn chế khả năng ứng dụng của chúng trong các lĩnh vực của sự sống. Tùy vào cấu trúc, thành phần của alginate mà chúng có những đặc tính lý hóa khác nhau như KLPT, độ nhớt, độ hòa tan.
Alginate có nguồn gốc khác nhau thì tỷ lệ block G và M khác nhau. Khi alginate có chứa nhiều block G hơn, KLPT cao hơn thì khả năng tạo gel mạnh hơn và giòn hơn [19]. 11 Acid alginic không tan trong nước và dung môi hữu cơ, trong khi muối đơn chất của alginate và ester alginate tan trong nước tạo thành các dung dịch nhớt, ổn định [20]. Độ tan của alginate còn phụ thuộc vào pH (pH giảm thì alginate sẽ kết tủa), cường độ ion và hàm lượng của ion tạo gel [20], [21].
Alginate có cấu trúc khối MG hòa tan ở pH thấp hơn so với các poly M hoặc poly G. Ngoài KLPT, khả năng tạo dung dịch nhớt của alginate có thể thay đổi tùy theo nồng độ, pH dung môi, nhiệt độ và sự hiện diện của các ion hóa trị II. Chính vì vậy mà mỗi loại alginate được lựa chọn để ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau. Đặc điểm về alginate của rong nâu Việt Nam Ở Việt Nam, rong nâu là nhóm rong có kích thước lớn (macroalgae), chủ yếu gồm 4 chi Sargassum, Turbinaria, Dictyota, Padina sản lượng tự nhiên cao nhất so với các nhóm rong biển khác.
Alginate chiết xuất từ rong nâu ở nước ta chủ yếu tập trung vào chi Sargassum, Turbinaria do hàm lượng alginate và độ nhớt cao đạt yêu cầu về chất lượng alginate thương mại.