Tổng quan luận án

Công trình “Đảng lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở một số tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1996 đến năm 2010” của tác giả Trần Lê Thanh, do PGS. Trần Kim Đỉnh hướng dẫn khoa học, là luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62225601), bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015.

Về tính cấp thiết, xoá đói, giảm nghèo là chủ trương, chính sách xã hội lớn, lâu dài của Đảng nhằm bảo đảm công bằng xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau 15 năm thực hiện Chương trình xoá đói, giảm nghèo kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996), tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm xuống còn 10,7% (theo chuẩn mới là 14,2%). Tuy nhiên, miền núi phía Bắc vẫn là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước với 22,5% (chuẩn mới là 29,4%), trong đó nhiều tỉnh có tỷ lệ nghèo đặc biệt cao như Hà Giang (50,0%), Lai Châu (50,1%), Điện Biên (50,8%). Mặt trái của kinh tế thị trường làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, đặt các vùng khó khăn trước nguy cơ tụt hậu nếu thiếu chính sách phù hợp.

Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình trước đây chủ yếu đánh giá riêng lẻ vai trò của từng đảng bộ địa phương, chưa đặt trong chỉnh thể hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở và thiếu góc nhìn so sánh, tổng hợp theo phạm vi vùng. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc nghiên cứu sự lãnh đạo đồng bộ của Đảng (gồm Trung ương Đảng và các đảng bộ địa phương) trên phạm vi vùng miền núi phía Bắc qua 4 tỉnh đại diện.

Mục đích nghiên cứu của luận án là tái hiện lịch sử lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của Đảng tại một số tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 1996–2010, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo công tác này tại các vùng đặc biệt khó khăn.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Làm rõ chủ trương, chính sách về xoá đói, giảm nghèo và chỉ đạo của Đảng đối với triển khai thực hiện ở một số tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1996 đến năm 2010.
  2. Làm rõ sự vận dụng chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và chỉ đạo thực hiện của một số đảng bộ ở miền núi phía Bắc từ năm 1996 đến năm 2010.
  3. Đánh giá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của Đảng (Đảng và các đảng bộ) ở một số tỉnh miền núi phía Bắc.

Đối tượng nghiên cứu là sự lãnh đạo của Đảng đối với thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở một số tỉnh miền núi phía Bắc.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Nội dung: Chủ trương, chính sách hỗ trợ đối tượng nghèo (xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất, tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục); sự chỉ đạo của Đảng đối với các cơ quan Trung ương thể chế hoá chính sách; sự vận dụng, chỉ đạo của các đảng bộ địa phương đối với chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân.
  • Không gian: Tập trung vào 4 tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hoà Bình và Sơn La – những địa bàn đại diện cho vùng miền núi phía Bắc với các đặc trưng vùng cao, biên giới, đông đồng bào dân tộc thiểu số và có nhiều xã thuộc Chương trình 135.
  • Thời gian: Từ năm 1996 (Đại hội VIII đề ra Chương trình xoá đói, giảm nghèo) đến năm 2010 (kết thúc Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001–2010 của Đại hội IX).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm chính:

Nhóm nghiên cứu trên phạm vi cả nước:

  • Các tác giả, tổ chức quốc tế: Công ty Aduki (1996) với “Vấn đề nghèo ở Việt Nam” phân tích thực trạng các nhóm nghèo; Báo cáo “Nghèo” của các nhà tài trợ (2003) chỉ ra hạn chế trong quy trình lập kế hoạch từ trên xuống; Pierre Jacquet (2005) khẳng định vai trò của hạ tầng giao thông và thuỷ lợi; Martin Ravallion và Dominique van de Walle (2008) phân tích chính sách đất đai; Ngân hàng Thế giới (2008) chứng minh hiệu quả giảm nghèo từ sản xuất định hướng thị trường.
  • Các tác giả trong nước: Nguyễn Hải Hữu (2004), Phạm Đi (2005), Ngô Trường Thi (2006), Nguyễn Văn Lộc (2006), Hoàng Chí Bảo (2007, 2009), Trịnh Duy Luân (2007), Trần Văn Chử (2007), Chu Tiến Quang (2007), Nguyễn Trịnh (2008), Hoàng Thị Hương (2008), Nguyễn Thị Thanh Hà (2009), Nguyễn Thị Hằng (2009), Nguyễn Thị Thanh (2004), Nguyễn Đình Tấn (2005), Hồ Tố Lương (2009), Đinh Xuân Lý (2011). Các công trình này làm rõ nhận thức lý luận, hệ thống chính sách xã hội, tín dụng ưu đãi và quy chế dân chủ cơ sở.

Nhóm nghiên cứu tại địa bàn miền núi phía Bắc: Các công trình của Hoàng Công (1999), Chu Thái Thành (2001), Ngô Doãn Vịnh (2006), Lê Minh Anh (2006), Lê Ngọc Sơn (2006), Hoàng Thị Hạnh (2006), Giàng Thị Dung (2006), Đinh Thị Khánh và Trần Đình Tuấn (2007), Nguyễn Thị Bích Hà (2007), Trần Chí Thiện (2007), Nguyễn Anh Dũng (2009), Trịnh Hoàng Thăng (2009), Trần Thị Thuý Hạnh (2008), Lương Thị Thuần (2011), Lê Hương Giang (2012), Ma Thị Tuyền (2013), Nguyễn Thị Nhung (2012). Các nghiên cứu đã phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc, Đông Bắc và công tác giảm nghèo tại từng địa phương (Tuyên Quang, Yên Bái, Điện Biên, Cao Bằng, Phú Thọ, Thái Nguyên).

Nhóm nghiên cứu trực tiếp tại 4 tỉnh khảo sát: Nguyễn Công Đồn (1999) nghiên cứu kinh nghiệm huyện Lục Ngạn (Bắc Giang); Nguyễn Quốc Cường (2002) phân tích các chương trình phát triển tại Bắc Giang; Nguyễn Huy Toán (2004) nghiên cứu mô hình dệt lanh tại xã Lùng Tám, Quản Bạ (Hà Giang); Mai Thị Lan Hương và Lê Hữu Ảnh (2006) khảo sát xã Trường Sơn, Lương Sơn (Hoà Bình); Lê Thành Ý và Lưu Đức Khải (2008) nghiên cứu dự án giảm nghèo huyện Đà Bắc (Hoà Bình); Nguyễn Thanh Thuỷ (2009) đánh giá công tác giảm nghèo tại Hoà Bình; Thanh Phúc (2011) nêu kinh nghiệm đầu tư trọng điểm tại Hà Giang.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết: Luận án xác định các công trình trước chưa hệ thống hoá đầy đủ chủ trương, sự chỉ đạo của Trung ương Đảng gắn với quá trình vận dụng cụ thể của các đảng bộ địa phương theo quy mô vùng. Luận án định vị là công trình lịch sử Đảng nghiên cứu toàn diện sự lãnh đạo của cả hệ thống tổ chức Đảng (Trung ương và 4 tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hoà Bình, Sơn La) trong 15 năm (1996–2010).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đối tượng nghiên cứu được xem xét trong các mối quan hệ vận động:

  • Mối quan hệ giữa chủ trương, chính sách và sự chỉ đạo thực hiện của Trung ương Đảng;
  • Mối quan hệ giữa chủ trương của Đảng, sự thể chế hoá của Nhà nước và sự vận dụng của các đảng bộ địa phương;
  • Sự tương tác giữa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù với quyết sách của cấp uỷ;
  • Mối quan hệ giữa các giai đoạn lịch sử (1996–2000 và 2001–2010).

Khái niệm công cụ được xác định rõ:

  • Đói nghèo: Luận án tiếp cận định nghĩa từ Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (Bangkok, 1993) và các nghiên cứu chuyên ngành: là tình trạng một bộ phận dân cư không được thoả mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu về ăn, mặc, ở, giáo dục, y tế và văn hoá dựa trên trình độ phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng.
  • Đảng lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo: Là việc Đảng đề ra chủ trương, chính sách và chỉ đạo tổ chức thực hiện nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của nhân dân.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích, cùng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và thống kê mô tả. Tác giả đã tiến hành điều tra khảo sát thực tế tại 4 tỉnh (Bắc Giang, Hà Giang, Hoà Bình, Sơn La) trong các năm 2009, 2010, 2011 thông qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu cán bộ cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và người dân.

Nguồn tư liệu sử dụng gồm: văn kiện của Đảng và Nhà nước; tác phẩm Hồ Chí Minh; nghị quyết, chỉ thị, báo cáo tổng kết, văn kiện đại hội và lịch sử đảng bộ của 4 tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hoà Bình, Sơn La; số liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê các tỉnh; tư liệu điều tra thực địa của tác giả.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Chủ trương về xoá đói, giảm nghèo của Đảng và vận dụng của các đảng bộ Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La (1996-2000)

Chương 1 phân tích bối cảnh tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động trực tiếp đến công tác giảm nghèo tại 4 tỉnh:

  • Điều kiện tự nhiên: Địa hình phức tạp, chia cắt sâu, độ dốc lớn (Hà Giang nhiều vùng núi đá, Sơn La chỉ có 15,4 vạn ha đất bằng trên 1.500 ha diện tích tự nhiên). Khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng mưa tập trung gây lũ quét, xói mòn; mùa đông rét đậm, sương muối; mùa hè chịu ảnh hưởng gió Lào. Đất trống đồi trọc chiếm tỷ lệ lớn (năm 2005 Hà Giang có 197.503,02 ha đất trống đồi trọc, chiếm 24,92% diện tích tự nhiên).
Tháng 2001 2002 2003 2004 2005
1 56,2 31,9 51,9 60,5 43,8
2 93,9 54,2 30,5 33,6 17,2
3 64,2 169,2 77,7 49,9 73,2
4 78,0 680,0 52,0 185,9 145,2
5 243,6 456,1 256,6 375,5 172,6
6 431,1 401,5 414,8 412,3 653,9
7 761,2 470,7 572,0 467,7 659,5
8 225,2 497,2 762,5 438,2 300,0
9 79,1 115,6 167,1 272,5 190,2
10 178,1 151,3 140,6 5,0 129,2
11 33,3 25,9 41,6 80,5 40,7
12 9,7 101,6 61,7 11,4 31,4

Bảng: Lượng mưa các tháng trong năm của Hà Giang (Đơn vị: mm - Nguồn: Cục Thống kê Hà Giang, 2006)

  • Điều kiện kinh tế - xã hội: Hạ tầng yếu kém, giao thông chủ yếu là đường đất; thiếu điện (năm 2004 Sơn La chỉ có 46/201 xã có điện lưới); thiếu trạm y tế và trường học (năm 2004 Hà Giang có 105/195 xã chưa có trường THCS, 22/195 xã chưa có trạm y tế). Cơ cấu kinh tế thuần nông lâm nghiệp, tự cung tự cấp. Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao (Hà Giang người Kinh chiếm 12,13%, Hoà Bình 28%, Sơn La 17,29%). Trình độ học vấn của cán bộ cơ sở và người dân còn hạn chế; một số tập quán lạc hậu gây tốn kém.
Vùng Tỷ lệ đói nghèo năm 1993 (%) Tỷ lệ đói nghèo năm 1998 (%)
Miền núi phía Bắc 81,5 64,2
Đồng bằng sông Hồng 62,7 29,3
Bắc Trung bộ 74,5 48,1
Duyên hải miền Trung 47,2 34,5
Tây Nguyên 70,0 52,4
Đông Nam bộ 37,0 12,2
Đồng bằng sông Cửu Long 47,1 36,9

Bảng: Tỷ lệ đói nghèo phân theo vùng giai đoạn 1993–1998 (Nguồn: Báo cáo Phát triển Việt Nam, 2004)

Tỉnh Số xã có tỷ lệ đói nghèo trên 40% (1998) Số xã thuộc Chương trình 135 (1999)
Bắc Giang 56 14
Hà Giang 84 117
Hoà Bình 45 24
Sơn La 43 52

Bảng: Số xã có tỷ lệ đói nghèo trên 40% và xã thuộc Chương trình 135 tại 4 tỉnh (Nguồn: Bộ LĐ-TB&XH, 2004)

Tỉnh Tổng chung (%) Tiền lương, tiền công Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản Phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản Nguồn thu khác
Bắc Giang 100,0 24,8 45,9 13,2 16,2
Hà Giang 100,0 15,4 63,4 9,2 12,0
Hoà Bình 100,0 26,0 47,6 11,2 15,3
Sơn La 100,0 16,6 68,6 4,9 9,9

Bảng: Cơ cấu thu nhập bình quân 1 nhân khẩu/tháng chia theo nguồn thu năm 2002 (Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2011)

Năm Lúa ruộng (Tạ/ha) Lúa cạn (Tạ/ha)
2000 40,29 13,05
2001 42,10 13,64
2002 42,60 13,40
2003 43,82 14,98
2004 44,15 15,61
2005 44,95 15,81

Bảng: Năng suất lúa của tỉnh Hà Giang giai đoạn 2000–2005 (Nguồn: Cục Thống kê Hà Giang, 2006)

Về chủ trương và chỉ đạo của Trung ương: Đại hội VIII (1996) chính thức đề ra Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói, giảm nghèo. Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 23-CT/TW (11/1997) xác định rõ nhiệm vụ của các cấp uỷ và chính quyền; Hội nghị Trung ương 4 khoá VIII (1998) chỉ đạo xây dựng cơ chế đầu tư hạ tầng và tín dụng; Hội nghị Trung ương 6 khoá VIII (10/1998) yêu cầu quản lý chặt chẽ nguồn lực; Chỉ thị 30-CT/TW (1998) phát huy quy chế dân chủ cơ sở; Nghị quyết 06-NQ/TW (1998) chỉ đạo ưu tiên nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội miền núi.

Về sự vận dụng của các đảng bộ: Các tỉnh uỷ ban hành nghị quyết chuyên đề, thành lập Ban chỉ đạo xoá đói, giảm nghèo các cấp. Bắc Giang phân công đảng viên khá giả giúp hộ nghèo; Hà Giang quy định mỗi cấp uỷ viên trực tiếp phụ trách một thôn, bản nghèo; Sơn La đẩy mạnh xây dựng trang trại vùng cao; Hoà Bình tập trung giao đất, giao rừng. Các địa phương huy động vốn qua Ngân hàng Phục vụ người nghèo, tổ chức khai hoang, xoá mù chữ và hỗ trợ khám chữa bệnh kết hợp đông - tây y. Hạn chế giai đoạn này là công tác chỉ đạo đôi lúc dàn trải, việc lồng ghép nguồn vốn chưa hiệu quả và còn hiện tượng thất thoát trong xây dựng hạ tầng.

Chương 2. Chủ trương mới về xoá đói, giảm nghèo của Đảng và vận dụng của các đảng bộ Bắc Giang, Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La (2001-2010)

Chương 2 làm rõ bước chuyển trong chủ trương của Đảng qua Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006): Chuyển từ xoá đói, giảm nghèo đơn thuần sang giảm nghèo bền vững và hạn chế tái nghèo; gắn giảm nghèo với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính phủ triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo các giai đoạn 2001–2005, 2006–2010, Chương trình 135 giai đoạn II và Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo nhất.

Quá trình vận dụng tại 4 tỉnh tập trung vào các nội dung:

  • Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi: Đưa giống lúa lai, ngô lai năng suất cao vào sản xuất; phát triển cây ăn quả tại Bắc Giang (vải thiều Lục Ngạn), chè và thảo quả tại Hà Giang, mía và cây ăn quả tại Hoà Bình, ngô thương phẩm và cao su tại Sơn La.
  • Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu: Hoàn thành chỉ tiêu cứng hoá đường giao thông liên thôn, đưa điện lưới về trung tâm xã, kiên cố hoá trường lớp học, xoá phòng học tranh tre tạm bợ và xây dựng trạm y tế xã chuẩn quốc gia.
  • Thực hiện các chính sách xã hội hoá: Triển khai cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số; miễn giảm học phí và cấp học bổng cho học sinh nghèo; hỗ trợ xoá nhà tạm, nhà dột nát theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg.
  • Phát huy vai trò đoàn thể: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh thực hiện uỷ thác vay vốn qua Ngân hàng Chính sách xã hội, xây dựng các tổ tiết kiệm và vay vốn tại thôn bản.

Chương 3. Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 3 tổng kết sự lãnh đạo của Đảng và các đảng bộ địa phương:

  • Ưu điểm: Tỷ lệ hộ nghèo tại cả 4 tỉnh giảm nhanh; cơ sở hạ tầng nông thôn miền núi thay đổi căn bản; đời sống vật chất và văn hoá của đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện; hệ thống chính trị cơ sở được củng cố. Nguyên nhân là do chủ trương của Đảng đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp uỷ và sự tham gia tích cực của cộng đồng.
  • Hạn chế: Kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo sau thiên tai còn cao; khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng trong từng tỉnh có xu hướng nới rộng; năng lực cán bộ cơ sở tại vùng cao còn hạn chế; một bộ phận người dân còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách của Nhà nước.
  • Ba bài học kinh nghiệm:
    1. Đảng coi trọng hoạch định chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đặc biệt về nguồn lực và quan tâm theo dõi, kiểm tra thường xuyên trong chỉ đạo thực hiện.
    2. Các đảng bộ địa phương quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và chú trọng sự sâu sát trong chỉ đạo thực hiện.
    3. Đảng và các đảng bộ địa phương coi trọng chỉ đạo phối hợp thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở Trung ương và địa phương nhằm bảo đảm nguồn lực.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:

  1. Về mặt khoa học: Hệ thống hoá một cách toàn diện chủ trương, chính sách và sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác xoá đói, giảm nghèo trong giai đoạn 1996–2010; làm rõ mối quan hệ chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến địa phương trên địa bàn vùng miền núi phía Bắc.
  2. Về mặt thực tiễn: Phân tích sâu sắc quá trình cụ thể hoá, vận dụng của 4 đảng bộ tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hoà Bình và Sơn La; chỉ ra những cách làm hiệu quả cũng như các bất cập trong chỉ đạo thực tế tại cơ sở.
  3. Đúc kết kinh nghiệm: Rút ra 3 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo thiết thực cho việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong thực hiện chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số thời kỳ tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung khảo sát 4 tỉnh (Bắc Giang, Hà Giang, Hoà Bình, Sơn La) đại diện cho vùng miền núi phía Bắc và kết thúc mốc thời gian khảo sát vào năm 2010.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu mở rộng việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững theo chuẩn nghèo đa chiều trong các giai đoạn sau 2010; so sánh đối sánh mô hình lãnh đạo giảm nghèo giữa vùng miền núi phía Bắc với các địa bàn khó khăn khác như Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Chính sách công, Xã hội học và Quản lý phát triển xã hội;
  • Giảng viên giảng dạy các học phần Lịch sử Đảng, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính sách xã hội tại các trường đại học, học viện;
  • Cán bộ lãnh đạo, chuyên viên làm công tác tham mưu, hoạch định chính sách tại các cơ quan Đảng, Ban Dân tộc, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tại các địa phương miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Phần nội dung phân tích các nhân tố đặc thù vùng cao (địa hình, khí hậu, tập quán sản xuất) ở Chương 1 và 3 bài học kinh nghiệm ở Chương 3 là những phần có giá trị thực tiễn cao cho việc hoạch định chính sách can thiệp giảm nghèo.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn 4 tỉnh nào để nghiên cứu và vì sao? Luận án chọn 4 tỉnh: Bắc Giang, Hà Giang, Hoà Bình và Sơn La. Các tỉnh này được lựa chọn vì mang đầy đủ đặc trưng của vùng miền núi phía Bắc: địa hình phức tạp chia cắt, có tỷ lệ hộ đói nghèo cao, nhiều xã thuộc Chương trình 135, cơ cấu dân tộc thiểu số đa dạng và đại diện cho các tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc.

2. Giai đoạn 1996–2000, văn kiện nào của Đảng trực tiếp chỉ đạo toàn diện công tác xoá đói, giảm nghèo? Đó là Chỉ thị số 23-CT/TW ban hành tháng 11/1997 của Bộ Chính trị về lãnh đạo thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể từ Trung ương đến cơ sở.

3. Số liệu khảo sát trong luận án chỉ ra hạn chế gì về trình độ cán bộ cơ sở tại một số địa phương? Khảo sát tại Hà Giang cho thấy trong 191 Chủ tịch UBND cấp xã/phường/thị trấn có 115 người trình độ học vấn cấp II, chỉ có 4 người có trình độ đại học. Tại Sơn La, nhiều cán bộ chủ chốt ở vùng sâu, vùng xa chưa học hết cấp II. Tại xã Nấm Dẩn (huyện Xín Mần, Hà Giang), Chủ tịch Hội Cựu chiến binh có trình độ 7/10.

4. Khái niệm "Đảng lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo" được luận án định nghĩa như thế nào? Luận án xác định: Đảng lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo là việc Đảng đề ra chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo và chỉ đạo thực hiện nhằm thoả mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu về ăn, mặc, ở, giáo dục, y tế, văn hoá của một bộ phận dân cư.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Lê Thanh là công trình nghiên cứu lịch sử Đảng có hệ thống và nguồn tư liệu thực tế phong phú về công tác giảm nghèo tại miền núi phía Bắc giai đoạn 1996–2010. Luận án đã làm rõ tiến trình hoàn thiện đường lối của Đảng, phân tích bức tranh thực hiện thực tế tại 4 tỉnh Bắc Giang, Hà Giang, Hoà Bình, Sơn La với đầy đủ các yếu tố đặc thù tự nhiên - xã hội. Những bài học kinh nghiệm được đúc kết từ công trình đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu khoa học lịch sử và cung cấp luận cứ thực tiễn cho việc lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng đặc biệt khó khăn.