chương 1. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đặc điểm mẫu nghiên cứu. Tổ chức nghiên cứu.
Các phương pháp nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu tài liệu. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. Độ tin cậy các thang đo.
Phương pháp phân tích dữ liệu bằng thống kê toán học. 43 Tiểu kết chương 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Thực trạng sử dụng mạng xã hội có vấn đề và các biến số trong nghiên cứu.
Thống kê mô tả sử dụng mạng xã hội có vấn đề. Thống kê mô tả các biến số trong nghiên cứu. Sự khác biệt về việc sử dụng mạng xã hội có vấn đề trong các nhóm người trưởng thành trẻ tuổi khác nhau. Mối liên hệ giữa việc sử dụng mạng xã hội có vấn đề và các biến số liên quan.
Các yếu tố dự đoán việc sử dụng mạng xã hội có vấn đề. Ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội có vấn đề đến sức khỏe tâm thần ở người trưởng thành trẻ tuổi. Bàn luận về kết quả nghiên cứu. Hạn chế của nghiên cứu.
63 Tiểu kết chương 3. 63 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 69 PHỤ LỤC 2 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Ký hiệu chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ 1 MXHCVĐ Mạng xã hội có vấn đề 2 MXH Mạng xã hội Bergen social media addiction scale 3 BSMAS Thang đo nghiện mạng xã hội Bergen Fear of missing out 4 FoMO Nỗi sợ bị bỏ lỡ The multidimensional Scale of perceived 5 MSPSS social support Thang đo hỗ trợ xã hội Patient Health Questionnaire-9 6 PHQ - 9 Thang đo đánh giá Trầm cảm The generalized anxiety disorder scale-7 7 GAD - 7 Thang đo sàng lọc rối loạn lo âu tổng quát The Satisfaction With Life Scale 8 SWLS Thang đo Hài lòng cuộc sống 9 ĐTB Điểm trung bình 10 ĐLC Độ lệch chuẩn 3 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Đặc điểm chi tiết của mẫu nghiên cứu .2: Phân bố chuẩn và độ tin cậy của từng item trong thang đo BSMAS .3: Độ tin cậy các thang đo .1: Đặc điểm của việc sử dụng MXHCVĐ ở người trưởng thành trẻ tuổi .2: Phân tích mô tả việc sử dụng MXHCVĐ .3: Mức độ sử dụng MXHCVĐ ở người trưởng thành trẻ tuổi.4: Phân tích mô tả các biến số .5: So sánh việc sử dụng MXHCVĐ trong các nhóm người trưởng thành trẻ tuổi .6: Tương quan giữa các biến số .7: Các yếu tố dự đoán việc sử dụng MXHCVĐ .8: Ảnh hưởng của việc sử dụng MXHCVĐ đến sức khỏe tâm thần.
54 4 DANH MỤC MÔ HÌNH Mô hình 3.1: Yếu tố dự đoán việc sử dụng MXHCVĐ.2: Ảnh hưởng của việc sử dụng MXHCVĐ đến sức khỏe tâm thần. Lý do chọn đề tài Trong suốt thập kỷ vừa qua, việc sử dụng mạng xã hội đã ngày càng trở nên phổ biến và trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của nhiều cá nhân (Ahmed và cộng sự, 2021). Theo Báo cáo thống kê kỹ thuật số toàn cầu năm 2024 (Kemp, 2024), thế giới hiện có hơn 5 tỉ người dùng mạng xã hội và tại Việt Nam, tính đến tháng 1 năm 2024, có 72,7 triệu người dùng mạng xã hội, tương đương với 73,3% tổng dân số. Mạng xã hội hiện diện ở mọi lúc, mọi nơi và không ngừng phát triển cùng với sự gia tăng của các thiết bị và ứng dụng di động (Marttila và cộng sự, 2021).
Cùng với sự phổ biến và các lợi ích được báo cáo khi sử dụng MXH, chẳng hạn như tăng cường cảm giác kết nối xã hội, làm phong phú trải nghiệm hàng ngày của người dùng và gia tăng sự hỗ trợ xã hội (Ryan và cộng sự, 2017; Orsolini và cộng sự, 2022), đã có rất nhiều quan ngại xoay quanh tác động tiềm ẩn của việc sử dụng này. Trong đó, sử dụng mạng xã hội có vấn đề được coi là hành vi nguy cơ tiềm ẩn như vậy và đã nổi lên như mối quan tâm mới về sức khỏe cộng đồng trong những năm gần đây (Demircioğlu & Göncü-Köse, 2022; Hylkilä và cộng sự, 2023). Hiện nay, tỷ lệ sử dụng mạng xã hội có vấn đề được ước tính là từ 1,6 đến 34% trong dân số nói chung trước đại dịch COVID-19 và khoảng 15% trong thời gian xảy ra đại dịch (Moretta và cộng sự, 2023). Một bộ phận nhỏ người dùng MXH thường xuyên báo cáo các triệu chứng giống như nghiện, trở thành những người sử dụng mạng xã hội có vấn đề và chịu ảnh hưởng tiêu cực từ hiện tượng này (Süral và cộng sự, 2019).
Việc sử dụng MXHCVĐ có thể ảnh hưởng đến các hoạt động xã hội khác như học tập, công việc, mối quan hệ cá nhân và sức khỏe tổng thể (Orsolini và cộng sự, 2022). Hơn nữa, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng MXHCVĐ thường liên quan tiêu cực đến sức khỏe tâm thần, bao gồm mức độ hạnh phúc thấp hơn, suy giảm lòng tự trọng, chất lượng giấc ngủ kém cũng như liên quan đến các vấn đề như trầm cảm, lo âu và căng thẳng (Marttila và cộng sự, 2021; Moretta và cộng sự, 2023; Orsolini và cộng sự, 2022). 6 Thêm vào đó, người trưởng thành trẻ tuổi là đại diện cho nhóm dân số đặc biệt trong việc sử dụng mạng xã hội (Gen Z, những người sinh năm 1997 đến 2012), vì họ là thế hệ đầu tiên lớn lên trong một xã hội kỹ thuật số hóa cao (Shannon và cộng sự, 2022). Đặc biệt, họ cũng là nhóm dễ bị tổn thương hơn so với người trưởng thành khi sử dụng MXHCVĐ, bởi vì việc sử dụng này đang diễn ra trong thời kỳ hình thành bản sắc, khi họ tự do khám phá các lựa chọn khác nhau trong cuộc sống và phát triển các giá trị mới (Villanti và cộng sự, 2017; Vogel và cộng sự, 2021).
Do đó, họ có thể phải đối mặt với nhiều rủi ro tiêu cực liên quan đến việc sử dụng mạng xã hội có vấn đề, bao gồm sự ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần, các mối quan hệ xã hội và sự phát triển cá nhân. Mặc dù ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy sử dụng MXHCVĐ đang trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng rõ nét ở những người trưởng thành trẻ tuổi, tuy nhiên trong bối cảnh Việt Nam, đây vẫn là một chủ đề mới mẻ và chưa được nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ Tâm lý học. Chính vì những lý do này, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu: “Sử dụng mạng xã hội có vấn đề ở người trưởng thành trẻ tuổi”. Kết quả của nghiên cứu hiện tại sẽ có vai trò bổ sung các bằng chứng nghiên cứu nhằm làm dày thêm cơ sở lý luận về sử dụng mạng xã hội có vấn đề và mối liên hệ với sức khỏe tâm thần ở người trưởng thành trẻ tuổi.
Đồng thời, nghiên cứu cũng gợi mở một số hướng nghiên cứu tiềm năng đến biến số này và các khía cạnh liên quan trong tương lai. Đối tượng nghiên cứu Sử dụng mạng xã hội có vấn đề và các yếu tố liên quan ở người trưởng thành trẻ tuổi. Mẫu nghiên cứu Mẫu nghiên cứu là mẫu thuận tiện bao gồm 366 người trưởng thành trẻ tuổi, trong độ tuổi từ 18 - 30 tuổi tại Việt Nam. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu này tập trung khám phá thực trạng việc sử dụng MXHCVĐ, các yếu tố dự đoán sử dụng MXHCVĐ và ảnh hưởng của sử dụng MXHCVĐ đến sức 7 khỏe tâm thần ở người trưởng thành trẻ tuổi.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số chiến lược phòng ngừa nhằm giảm thiểu tình trạng sử dụng MXHCVĐ và nâng cao sức khỏe tâm thần ở người trưởng thành trẻ tuổi. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xây dựng cơ sở lý luận cho nghiên cứu bao gồm tổng quan nghiên cứu về sử dụng MXHCVĐ, xác định các khái niệm, lý thuyết tiếp cận và công cụ đo lường. - Khảo sát và phân tích thực trạng việc sử dụng MXHCVĐ, các yếu tố dự đoán sử dụng MXHCVĐ và ảnh hưởng của việc sử dụng MXHCVĐ đến sức khỏe tâm thần ở người trưởng thành trẻ tuổi. - Đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm thiểu tình trạng sử dụng MXHCVĐ và nâng cao sức khỏe tâm thần ở người trưởng thành trẻ tuổi thông qua việc tăng cường giáo dục nhận thức và thúc đẩy các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần.
Câu hỏi nghiên cứu - Câu hỏi nghiên cứu 1: Thực trạng việc sử dụng mạng xã hội có vấn đề ở người trưởng thành trẻ tuổi Việt Nam như thế nào? - Câu hỏi nghiên cứu 2: Có sự khác biệt về việc sử dụng mạng xã hội có vấn đề giữa các nhóm nhân khẩu học (như nhóm tuổi, giới tính sinh học, xu hướng tính dục, trình độ học vấn, tình trạng mối quan hệ, tình trạng công việc và khu vực sinh sống) hay không? - Câu hỏi nghiên cứu 3: Những yếu tố nào có thể dự đoán việc sử dụng mạng xã hội có vấn đề ở người trưởng thành trẻ tuổi? - Câu hỏi nghiên cứu 4: Việc sử dụng mạng xã hội có vấn đề có ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe tâm thần của người trưởng thành trẻ tuổi? 7. Giả thuyết nghiên cứu - Giả thuyết 1: Sử dụng MXHCVĐ ở người trưởng thành trẻ tuổi có mức độ phổ biến từ trung bình đến cao. - Giả thuyết 2: Có sự khác biệt về việc sử dụng mạng xã hội có vấn đề giữa các nhóm nhân khẩu học. 8 - Giả thuyết 3: Nỗi sợ bị bỏ lỡ, sự hỗ trợ xã hội, sự cô đơn, trầm cảm, lo âu, thời gian ngủ và thời gian sử dụng MXH là những yếu tố dự đoán việc sử dụng mạng xã hội có vấn đề ở người trưởng thành trẻ tuổi.
- Giả thuyết 4: Việc sử dụng mạng xã hội có vấn đề có ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe tâm thần (lo âu, trầm cảm, cô đơn, hài lòng cuộc sống). Giới hạn phạm vi nghiên cứu Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu bắt đầu từ tháng 06/2023 cho đến tháng 11/2024. Khách thể nghiên cứu: Công dân Việt Nam trong độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi. Các phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu được thiết kế theo chiều ngang (cross-sectional) - khảo sát định lượng cắt ngang và sử dụng các phương pháp nghiên cứu: (1) Phương pháp nghiên cứu tài liệu; (2) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; (3) Phương pháp thống kê toán học bằng phần mềm SPSS phiên bản 26.
Tổng quan nghiên cứu về sử dụng mạng xã hội có vấn đề trên thế giới 1. Tổng quan nghiên cứu về sử dụng mạng xã hội có vấn đề và các yếu tố dự đoán Trên toàn cầu, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào việc khám phá các yếu tố dự đoán của việc sử dụng MXHCVĐ.