phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan và cơ sở lý thuyết Chƣơng 2. Đặc điểm về trƣờng của giao tiếp hội thoại trong phim “Ngƣời Hà Nội” Chƣơng 3. Đặc điểm về không khí của giao tiếp hội thoại trong phim “Ngƣời Hà Nội” 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.
Tổng quan Cho đến nay, trong ngôn ngữ học thế giới cũng nhƣ trong Việt ngữ học, các nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu nhiều về chức năng ngôn ngữ.Halliday là ngƣời đề ra quan điểm ba siêu chức năng trong lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống: siêu chức năng tƣ tƣởng (ideational metafunction), siêu chức năng liên nhân (interpersonal metafunction) và siêu chức năng văn bản (textual metafunction). Trong những năm gần đây, có một số công trình trong và ngoài nƣớc đã vận dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống (systemic functional grammar/SFG) của Halliday để giải quyết các hiện tƣợng ngôn ngữ trong cả văn bản lẫn cuộc sống hàng ngày. Ngoài nước Robyn Ewing (2001) đã lý giải ba thuật ngữ đƣợc sử dụng trong mô hình ngữ pháp chức năng, bao gồm: trường, không khí và thức. Đây là ba thông số ảnh hƣởng đến cách sử dụng ngôn ngữ.
Sau đó, tác giả chỉ ra ý nghĩa của hƣớng tiếp cận chức năng của ngôn ngữ vào việc dạy tiếng Anh trong trƣờng tiểu học (trường). Theo tác giả, các giáo viên cần tạo nhiều cơ hội cho các học sinh đƣợc khám phá các dạng văn bản để hiểu hơn về quá trình vận hành tạo nghĩa theo nhiều cách và nhiều mức độ khác nhau của hệ thống ngôn ngữ. Văn bản đó đƣợc viết theo phong cách diễn ngôn (thức) của một giáo viên tiểu học và các học sinh (không khí, quan hệ liên nhân). Mặc dù việc áp dụng hƣớng tiếp cận chức năng trong việc dạy ngôn ngữ nói chung và dạy chữ nói riêng còn gặp thử thách nhƣng chắc chắn sẽ giúp các học sinh hiểu hơn về việc sử dụng ngôn ngữ một cách có ý nghĩa.
Michal Boleslav Měchura (2005) đã phân tích các đặc điểm của văn bản tiếng Anh theo hƣớng tiếp cận chức năng của Halliday, cụ thể là dựa trên ba 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông số trường, thức, không khí và hiệu quả giao tiếp. Tác giả tiến hành làm rõ ba khái niệm trường, không khí và thức của một văn bản tiếng Anh từ quan điểm siêu chức năng kinh nghiệm, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng văn bản. Theo tác giả, phân tích trường thực chất chỉ là trả lời câu hỏi: “Văn bản đó nói về cái gì?” (What is the text about?). Phân tích thức tức là làm rõ cách thức mà văn bản đó đƣợc tạo ra và phát hành nhƣ thế nào.
Cũng theo tác giả, phân tích không khí là phần dài nhất bởi vì không khí là yếu tố phức tạp nhất. Để làm rõ không khí, chúng ta phải đọc kỹ và hiểu chính xác nội dung của văn bản. Ngoài việc làm rõ ba khái niệm trên, phần cuối của bài nghiên cứu bàn về hiệu quả giao tiếp mà cũng lại đƣợc tạo ra từ chính ba thông số trên. Marcin Lewandowski (2010) đã tiến hành tìm hiểu rõ hai bình diễn của ngôn ngữ: phƣơng ngữ học và ngữ vực.
Trong bài viết, tác giả đã dẫn chứng nhiều luận điểm của các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng trên thế giới về hai bình diện ngôn ngữ này. Về phƣơng ngữ xã hội, tác giải đƣa ra quan điểm của các nhà các nhà ngôn ngữ học nhƣ Trudgill, Wilkon, Grabias, Kolodziejek. Về ngữ vực, tác giả trích dẫn quan điểm của các nhà ngôn ngữ học nhƣ J.Firth, Halliday, Hassan, Gregory, Zwicky, Ferguson, Biber và Conrad,… Trong đó, ngữ vực đƣợc các nhà ngôn ngữ học chức năng đặt trong sự đối lập với phƣơng ngữ. Trong đối lập này, ngữ vực là một loại biến thể ngôn ngữ xét theo cách sử dụng còn phƣơng ngữ là biến thể xét theo ngƣời sử dụng.
Có thể nói, bài viết của Marcin Lewandowski đã đóng góp về mặt lý thuyết thông qua việc làm rõ các cuộc tranh luận còn tồn tại xung quanh hai phạm vi (ngữ vực và phƣơng ngữ) và đề xuất giải pháp khắc phục. Elizabeth Armstrong và Alison Ferguson (2010) đã thảo luận về vai trò của ngôn ngữ trong cuộc sống xã hội mà ở đó ngƣời nói không chỉ truyền tải thông tin đến ngƣời khác mà còn duy trì mối quan hệ xã hội qua giao tiếp. Trong khi lập luận, ngoài việc trích dẫn một số quan niệm trong lý 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuyết ngữ pháp chức năng của Halliday, họ còn đồng tình với hƣớng tiếp cận chức năng trong giao tiếp của Audrey Holland cho rằng nghiên cứu và chữa trị lâm sàng cho những những bệnh nhân bị chứng mất ngôn ngữ có liên quan mật thiết đến nhu cầu giao tiếp hàng ngày của họ. Tác giả cho rằng việc phân tích diễn ngôn cũng nhƣ phân tích hội thoại ngày càng đƣợc áp dụng nhiều trong việc đánh giá bệnh mất chứng ngôn ngữ và đƣa ra những chiến lƣợc điều trị.
Trong nước Huỳnh Hữu Hiền (2003) đã chỉ ra một số đặc điểm ngữ vực trong diễn ngôn tiếng Anh quảng cáo. Theo bài viết, ngôn ngữ tiếng Anh quảng cáo có những đặc điểm riêng biệt của mình và đƣợc thể hiện rõ nhất trong ngữ vực của nó. Ngữ vực của tiếng Anh quảng cáo đƣợc xem xét dƣới ba bình diện: từ vựng, cấu trúc và phân tích diễn ngôn. Cụ thể, bình diện từ vựng đƣợc thể hiện qua việc sử dụng các tính từ có nghĩa tích cực và có tính nhấn mạnh, các động từ phổ biến thƣờng gặp ở nhóm định hƣớng theo đối tƣợng ngƣời nghe/nhìn hoặc nhóm định hƣớng theo sản phẩm và một số từ đƣợc dùng theo nghĩa giảm nhẹ hoặc né tránh,… Ở bình diện cấu trúc, các cấu trúc thƣờng đƣợc sử dụng với tần suất cao là cấu trúc nhấn mạnh, cấu trúc so sánh, các mệnh đề phụ,… Còn ở bình diện phân tích diễn ngôn, một số yếu tố ngôn ngữ tiêu biểu cho diễn ngôn quảng cáo thƣờng đƣợc khai thác và sử dụng là phép lặp, phép tỉnh lƣợc, phân tách cấu trúc đề-thuyết, phép đảo,… Việc nắm vững các đặc điểm ngữ vực đó giúp ngƣời học tiếng Anh hiểu tốt hơn ngôn ngữ quảng cáo về mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng để sử dụng tốt hơn ngôn ngữ này trong môi trƣờng kinh doanh.
Diệp Quang Ban (2008) đã dựa vào lý thuyết chức năng hệ thống của Halliday để làm rõ ba khái niệm “mạng mạch”, “mạch lạc” và “liên kết”. Ngoài ra, tác giả còn chỉ ra mối quan hệ giữa “mạng mạch”, “mạch lạc” và “liên kết” trong việc phân tích văn bản/ diễn ngôn. Việc phân biệt ba yếu tố 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trên trong văn bản/diễn ngôn nhƣ vừa nêu có nhiều ý nghĩa về mặt thực tiễn mà theo tác giả là giúp ích rất nhiều cho học sinh thuộc các cấp học khác nhau, giúp cho ngƣời học khắc phục đƣợc những thiếu sót thƣờng gặp trong việc giải thuyết văn bản/diễn ngôn. Phan Văn Hòa và Phan Thị Thủy Tiên (2010) đã vận dụng mô hình kinh nghiệm của Halliday để tiến hành phân tích kinh nghiệm trong các bản tin và xã luận tiếng Việt.
Từ góc nhìn ngữ pháp chức năng, hai tác giả đã chỉ ra thế giới kinh nghiệm trong bản tin và xã luận là thế giới hƣớng ra bên ngoài – thế giới của vật chất và các mối quan hệ trừu tƣợng đƣợc tạo dựng nên bởi các chu cảnh định vị. Thế giới đó không phải thiên về ý thức hay nội tâm của con ngƣời. Kết quả khảo sát còn cho thấy cách tổ chức và hoạt động của ngôn ngữ để trình bày kinh nghiệm của báo chí lại chuyển biến rất linh động và phức tạp. Trong từng thể loại văn bản, cách thể hiện kinh nghiệm cũng khác nhau ở tỉ lệ các yếu tố thành phần đƣợc lựa chọn.
Bài viết cũng bƣớc đầu mở rộng nghiên cứu kinh nghiệm từ cấp độ cụm từ, cú hay câu sang văn bản. Lê Văn Canh (2011) đã miêu tả những nội dung cơ bản nhất của lý thuyết ngữ pháp chức năng – hệ thống của Halliday mà có thể vận dụng vào lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ. Theo tác giả, ƣu điểm lớn nhất của ngữ pháp chức năng so với ngữ pháp tạo sinh là ở chỗ nó phản ánh đƣợc khía cạnh xã hội và tính chất động của ngôn ngữ. Sau đó, bài viết đƣa ra 7 gợi ý về khả năng ứng dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng vào lĩnh vực dạy ngoại ngữ: 1.
Kết hợp dạy ngữ pháp với từ vựng nhƣ một nhất thể trong ngôn cảnh cụ thể; 2. Dạy ngữ pháp theo chức năng thay vì dạy các quy tắc trừu tƣợng; 3. Áp dụng phƣơng pháp phân tích ngôn bản trong dạy đọc hiểu; 4. Vận dụng quan điểm mạch thông tin (flow of information) vào dạy viết; 5.Vận dụng phƣơng pháp phân tích thể loại (genre analysis) để dạy ngoại ngữ cho các mục đích chuyên biệt (language for specific purposes), 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đặc biệt là dạy viết thể loại khoa học/ học thuật (academic writing); 6.
Phân tích diễn ngôn phê phán (critical discourse analysis); 7. Sử dụng lý thuyết của ngữ pháp chức năng để phân tích ngôn ngữ tƣơng tác trong lớp học phục vụ mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, tác giả cũng lƣu ý rằng đây chỉ là những gợi ý mang tính lý thuyết và ý kiến chủ quan của tác giả. Chúng chỉ có tính thuyết phục khi đƣợc giáo viên thử nghiệm.
Nguyễn Văn Hiệp (2015) đã tóm tắt một số điểm chính trong lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday và áp dụng lý thuyết này vào việc đánh giá ngôn ngữ “phi chuẩn” của giới trẻ hiện nay theo các đặc trƣng ngữ vực. Cụ thể, tác giả đã chỉ ra các đặc trƣng về trường, không khí và thức của ngôn ngữ “phi chuẩn” hay ngôn ngữ thế hệ @. Sau đó, tác giả đƣa ra những nhận định riêng của mình về vấn đề này. Theo những phân tích của tác giả, cách nói “phi chuẩn” của lớp trẻ hiện nay có cả những mặt tích cực lẫn những mặt tiêu cực.
Vì đối với ngữ pháp chức năng thì ngôn ngữ “phi chuẩn” cũng là một phần của hệ thống các chọn lựa và có tính sản sinh trong nhiều tình huống giao tiếp. Chính vì vậy, những hiện tƣợng “phi chuẩn” tiêu cực có thể dần dần làm tha hóa và biến đổi hệ thống ngôn ngữ theo chiều hƣớng xấu.