CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tộc người và văn hóa tộc người Theo hai nhà nghiên cứu Ju. Cũng trong khái niệm này, các tác giả cũng chỉ ra rằng “với tư cách điều kiện quan trọng tham gia vào hình thành tộc người tính toàn vẹn lãnh thổ không phải là nhân tố nhất thiết phải có tái sản xuất mọi mặt của nó, rằng ngôn ngữ không trùng với tộc người, còn đặc điểm văn hóa đóng vai trò các tộc người chỉ khi nào bản thân nó tự nhận thức được. Chỉ có ý thức tự giác tộc người và tên tự gọi, có những mối quan hệ vững chắc với nhau được thừa nhận là những dấu hiệu tộc người tuyệt đối cần thiết” (như trích dẫn ở Nghiêm Văn Thái, 1998, trang 127).
Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn đưa ra nhận định: “Tộc người hay dân tộc (Ethnie) là một cộng đồng mang tính tộc người có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biệt) được liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hóa, tạo thành một tính cách tộc người, tức có chung một khát vọng được cùng chung sống, có chung một lịch sử thể hiện ở những ký ức lịch sử (truyền thuyết, lịch sử, huyền thoại, kiêng cử). Một tộc người không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, cùng một cộng đồng sinh hoạt kinh tế” (Đặng Nghiêm Vạn, 2009, trang 47-48). Theo định nghĩa của tác giả, những yếu tố cấu thành nên một tộc người bao gồm: tên gọi, ngôn ngữ, lãnh thổ, những sinh hoạt kinh tế - văn hóa và ý thức tự giác. Đây cũng là các tiêu chí để xác định các tộc người ở Việt Nam, các hệ tiêu chí này đa phần ảnh hưởng từ các nhà dân tộc học Liên Xô.
14 Trong các yếu tố cấu thành một tộc người của nhiều nghiên cứu khác nhau, có thể nhận ra yếu tố ngôn ngữ được xem là quan trọng hàng đầu, là yếu tố để xác định một tộc người, ngôn ngữ còn, dân tộc còn, tộc người còn. Ngôn ngữ chính là “tiếng nói từ tuổi thơ đánh thức cả một quá khứ dân tộc trong lời ru trẻ thơ, là tiếng nói liêng thiêng của một chiến binh ngã trên chiến trường trước khi rời đồng đội. Ngôn ngữ là một ngọn cờ đấu tranh để bảo vệ sự sống còn của một tộc người, đối diện với chính sách đồng hóa của người cầm quyền” (Đặng Nghiêm Vạn, 2009, trang 34). Nếu ngôn ngữ, tên gọi, những sinh hoạt kinh tế - văn hóa, sự hình thành lãnh thổ hay khu vực cư trú là những đặc trưng hình thành nên tộc người thì để tộc người đó tồn tại được lâu dài thì ý thức tộc người đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự sống còn của tộc người đó.
Đó chính là cái ý thức tự giác mà mỗi con người nên biết mình thuộc về cộng đồng người nào, có các ý niệm giống nhau về nguồn gốc, cùng nhau tuân thủ các quy định về phong tục, tập quán lối sống của tộc người đó. Những ý thức đó giúp mỗi con người thấy tự hào về nền văn hóa của mình, phản ánh tâm lý, tư tưởng, tình cảm, thôi thúc con người luôn phải có ý thức bảo vệ nền văn hóa đó (Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ & Nguyện Văn Tiệp, 2000). Đồng quan điểm với các nhà nghiên cứu văn hóa, Ngô Đức Thịnh (2006) cũng đưa ra quan điểm của mình về khái niệm tộc người: “Nó là tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục và nghi lễ… khiến người ta phân biệt tộc người này với tộc người khác, văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tộc người” (Ngô Đức Thịnh, 2006, trang 24). Với nhiều cách diễn đạt khác nhau cũng như tùy theo quan điểm của từng tác giả mà yếu tố nào đóng vai trò quyết định sự hình thành tộc người.
Nhưng suy cho cùng, các quan điểm của các tác giả có nhiều điểm tương đồng với nhau về các yếu tố hình thành một tộc người như các yếu tố về ngôn ngữ, tên gọi, lãnh thổ, sự tác động kinh tế - văn hóa và cả ý thức tự giác của tộc người. 15 Trong quá trình phát triển của nhân loại, quá trình hình thành tộc người phản ánh tính quy luật chung của lịch sử nhân loại, nó vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan. Các quá trình đó không giống nhau dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa các tộc người. Trong lĩnh vực văn hóa, mỗi dân tộc đều sáng tạo các giá trị riêng của mình.
Chỉ vì hoàn cảnh và điều kiện khác nhau giữa các tộc người dẫn đến sự phát triển của các tộc người không đều nhau. Việc nhận định tộc người này có văn hóa hay không có văn hóa là không có cơ sở, các giá trị văn hóa làm cho bức tranh văn hóa nhân loại trở nên phong phú. Văn hóa tộc người bao gồm cả những yêu tố vật chất, tinh thần giúp cho việc phân biệt giữa các tộc người với nhau được rõ ràng hơn. Chính cái văn hóa tộc người ấy đã làm nảy sinh và phát triển ý thức tự giác tộc người (Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ & Nguyễn Văn Tiệp, 2000).
Văn hóa tộc người có một phạm vi rất rộng bao gồm toàn bộ các khía cạnh trong đời sống của con người nhưng không phải chung chung về văn hóa mà là những gì tạo nên sắc thái bản sắc riêng mà tộc người tồn tại như một thực thể, không bị hòa lẫn với tộc người khác. Bản sắc văn hóa của một tộc người là tổng thể những tính chất, tính cách được hình thành và tồn tại bền vững trong tiến trình lịch sử, góp phần tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần trước những thử thách lớn lao của mỗi tộc người, tạo nên sự thống nhất văn hóa của một tộc người. Mỗi một tộc người trong tiến trình lịch sử của mình đã hình thành nên bản sắc văn hóa của mình (Ngô Văn Lệ, 2014, trang 318). Diện mạo chính của văn hóa tộc người là văn hóa dân gian, những giá trị văn hóa ăn, mặc, ở, đi lại, những phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, những dị bản văn hóa truyền khẩu, sử thi, cổ tích, ca dao, tục ngữ… Văn hóa tộc người không bị ngăn cách bởi biên giới quốc gia.
Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa tộc người, không nhất thiết mỗi tộc người phải có riêng một nhà nước. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển càng nhanh thì sự mai một của văn hóa tộc người cũng gia tăng, bản sắc văn hóa dân tộc đang đối mặt với nguy cơ bị đẩy lùi. Giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc, trong đó có các giá trị văn hóa vật thể 16 được tập trung đánh giá rất sâu, như một cuộc kiểm kê lại các giá trị văn hóa dân tộc để lên kết hoạch lưu giữ. Trên tạp chí văn hóa dân gian của Viện nghiên cứu văn hóa số 04 năm 2005 với nhan đề “Tổng quan về các dạng thức văn hóa ở Việt Nam”, Ngô Đức Thịnh đã nhấn mạnh rằng ở Việt Nam, văn hóa tộc người ứng với từng cộng đồng người, hình thành sớm nhất từ hậu kỳ đá mới và tồn tại bền vững tới tận ngày nay.
Từ góc độ tộc người và văn hóa thì Việt Nam giống như một Đông Nam Á thu nhỏ vì ở Việt Nam quy tụ đầy đủ các nhóm ngôn ngữ - tộc người như Nam Á, Nam Đảo, Hán Tạng. Ngoài mối quan hệ thân thuộc về ngôn ngữ, các tộc người ở Việt Nam còn có sự tương đồng về đặc trưng văn hóa: “Các nghiên cứu về người Chăm cho rằng tộc người này mang nét văn hóa tương đồng những tộc người thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh, trong quá trình cộng cư ở Việt Nam đã có sự giao lưu, tiếp biến trên nền tảng văn hóa bản địa, hình thành nên một nền văn hóa phong phú cả về nội dung và diện mạo để tạo nên sắc thái văn hóa Chăm như hiện nay” (Trích biên bản phỏng vấn số 6, Phú Văn Hẳn, viện KHXH vùng Nam Bộ). Trống Rabana chính là di sản văn hóa của tộc người Chăm ở An Giang, phản ánh đặc điểm bản sắc văn hóa của tộc người Chăm ở An Giang. Tìm hiểu, vận dụng hiểu biết khái niệm văn hóa tộc người, giúp cho việc bảo tồn, phát huy trống Rabana trong văn hóa của người Chăm theo hướng phát triển nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc văn hóa các dân tộc.
Việc tôn trọng bản sắc văn hóa của các tộc người tại chỗ, không áp đặt lập trường, tiêu chí hay làm mất bản sắc văn hóa của tộc người Chăm ở An Giang. Công tác bảo tồn và phát huy trước hết và sau hết phải vì lợi ích vật chất và tinh thần của cộng đồng người Chăm. Nghệ thuật biểu diễn Nghệ thuật biểu diễn dân gian hay nghệ thuật trình diễn dân gian (Performing Arts) là một hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội theo định kỳ như các Hội Gióng, Hội Xoan, Hội chùa Keo v. có quy mô cấp làng xã hoặc không theo thời gian nhất định như vào các dịp xây nhà mới, đám cưới, đám tang, lễ thành niên, lễ thượng thọ v.
Đây được xem là lối trình diễn theo phong cách tự nhiên không 17 theo định kỳ cũng như không theo một quy tắc định trước nào mà nó nảy sinh do nhu cầu sinh hoạt, lao động (hát diễn trong lúc đang lao động hoặc thời gian rảnh). Nghệ thuật biểu diễn có thể được phân theo chủ đề như dựng nước và giữ nước. Theo chủ đề dựng nước có thể chia thành hai tiểu loại sản xuất và sinh hoạt. Nếu phân loại theo quy cách biểu diễn thì có thể chia thành biểu diễn tự nhiên, tự do (diễn hát không động tác hoặc động tác đơn giản không kèm theo tập tục, nghi lễ) và biểu diễn theo định kỳ, định lệ (phức tạp hơn về thành phần cấu tạo, đa dạng hơn về nội dung và phải theo một quy cách nhất định).
Có thể xem diễn xướng chính là xuất phát điểm của nghệ thuật biểu diễn hiện nay. Diễn xướng là thuật ngữ chỉ việc thể hiện, trình bày những sáng tạo văn hóa nghệ thuật của con người gồm nhiều yếu tố hợp thành với nhau. Đây là hình thức sinh hoạt văn nghệ của con người từ lúc hình thành cho đến thời đại hiện nay (Phú Văn Hẳn, 2018b, trang 18).