mở đầu bằng lời chào và kết thúc là lời chào tạm biệt hoặc bằng hình thức khác 1. Cơ sở lí luận về ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong truyền thông Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người, do vậy cũng là phương tiện quan trọng nhất của truyền thông. Cùng với đó, ngôn ngữ được nhận thức như là một công cụ tương tác xã hội trong mọi trường hợp gồm hai chức năng cơ bản: chức năng bày tỏ và chức năng tác động. Trên thế giới, cuốn sách Ethnic Minority Media: An International Perspective của Riggin ra đời năm 1992 chính là bước đi đầu tiên cho những hoạt động nghiên cứu có tính chất cơ bản vấn đề này.
Tác giả đã chỉ ra 5 mô hình truyền thông dân tộc thiểu số: Mô hình hợp thể (với mục đích nhằm hợp nhất văn hóa các dân tộc thiểu số vào trong văn hóa nhóm sắc tộc đa số nhưng không phải làm đồng hóa và làm mất bản sắc văn hóa của nhóm thiểu số đó). Mô hình gắn với kinh tế (Ngôn ngữ trong truyền thông dân tộc thiểu số được thiết kế kết hợp với những áp lực về kinh tế nhằm khiến cho các nhóm dân tộc thiểu số phải biến đổi). Mô hình phân tách (những hoạt động truyền thông dân tộc thiểu số được thiết kế để làm nổi bật sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc thiểu số với nhau, từ đó hình thành bản sắc của mỗi dân tộc. Đó là mục đích chính của mô hình phân tách).
Mô hình đặc quyền (những hoạt động truyền thông dân tộc thiểu số được thiết kế dựa trên sự phân biệt về quyền lực). Mô hình đồng hóa (những hoạt động truyền thông dân tộc thiểu số được thiết kế nhằm đồng hòa các dân tộc thiểu số vào vào dân tộc đa số). 14 c Từ những quan điểm như vậy, Riggin đưa ra 5 điểm mà theo tác giả đây là 5 yếu tố chính mà mọi nghiên cứu về hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số cần phải nêu bật được. (1) Thể hiện những giá trị và đặc trưng văn hóa của dân tộc họ trên các phương tiện truyền thông đại chúng.
Đây được xem như yêu cầu đặc biệt quan trọng. 2) Các phương tiện truyền thông sẽ có tác động thực tế lên các nhóm dân tộc thiểu số đặc biệt là ở khả năng tồn tại của ngôn ngữ. (3) Bối cảnh chính trị ổn định, hòa bình đóng vai trò rất lớn đến các hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Nếu được như vậy, hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số sẽ thuận lợi.
(4) Việc thực hiện các hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số một mặt đem lại cơ hội được thể hiện những giá trị và đặc trưng văn hóa riêng biệt cho các dân tộc thiểu số, mặt khác chính điều này lại làm tăng thêm sự khác biệt, qua đó dấy lên mối lo ngại cho cộng đồng dân tộc đa số trong quốc gia đó, và thông qua sự khác biệt này, theo Riggins, điều được gọi là “sự thống nhất” của đất nước, của quốc gia giờ sẽ chỉ được xem như một “huyền thoại”. Cũng theo tác giả việc nghiên cứu truyền thông bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số cần phải được xuất phát từ hai phương diện chính - một mặt đó là tính khả thi của những hoạt động truyền thông trong việc hỗ trợ và giúp thực hiện việc bảo tồn các ngôn ngữ có nguy cơ tiêu vong, và mặt khác, một góc nhìn mang tính học thuật hơn đó là coi vấn đề hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số như một điển hình cho ta thấy được vai trò quan trọng của truyền thông nói chung trong xã hội, và đặc điểm này sẽ cung cấp cho chúng ta thêm một góc nhìn lên những nghiên cứu truyền thông khác sau này. 15 c Tác phẩm Electronic Media and Indigenous Peoples: A Voice of Our Own? của Donald Browne xuất bản năm 1996 đã dành hẳn một chương bàn về các hoạt động phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số. Theo Browne, có 5 vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ mà những nghiên cứu về hoạt động truyền thông bằng tiếng dân tộc thiểu số phải xem xét giải quyết, là: (1) Phương ngữ nào được xem là phù hợp? (đây thực sự là vấn đề nan giải) (2) Khi gặp những vấn đề mới như khoa học, kĩ thuật thì sẽ sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong phát thanh truyền hình như thế nào.
(3) Áp dụng ngôn ngữ trực quan (visual language) trong hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số như thế nào cho hiệu quả. Truyền thông ở các vùng dân tộc thiểu số là công cụ để quản lí, điều hành và cải cách xã hội; tạo nên liên kết xã hội, giúp cho người dân được cập nhật thông tin kinh tế, văn hóa, xã hội trong và ngoài nước; được giải trí và được nói lên tiếng nói bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Ngoài ra, nó liên quan đến những chuẩn mực trong giao tiếp, văn hóa, cách ứng xử liên cá nhân phong cách sống và nói năng của cộng đồng. Hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số (minority language media) hướng tới đối tượng chính là các cộng đồng dân tộc thiểu số.
Đặc biệt, truyền thông giúp cho các dân tộc này có được một không gian đại chúng (public sphere) của riêng mình, để nói lên và lắng nghe tiếng nói và nguyện vọng của bản thân theo cách của mình. Cơ sở lí luận về ngôn ngữ học xã hội có liên quan đến truyền thông Đứng từ góc độ ngôn ngữ học xã hội và vấn đề xây dựng chính sách ngôn ngữ, khi bàn về mối quan hệ giữa những hoạt động truyền thông bằng ngôn 16 c ngữ các dân tộc thiểu số với việc bảo tồn ngôn ngữ, giữa những nhà nghiên cứu lại chia ra thành 2 quan điểm trái ngược nhau. Một số nhà nghiên cứu cho rằng sẽ có những tác động tích cực từ những hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số đến việc bảo tồn ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. Những lí do được các nhà nghiên cứu này đưa ra là: Những hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số giúp cho có được một không gian cộng đồng (public sphere), từ đó đồng bào có cơ hội nói lên tiếng nói và nguyện vọng của bản thân mình.
Mặt khác, việc tiến hành những hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số bên cạnh ngôn ngữ chính của quốc gia đó giúp ngôn ngữ đó được duy trì, từ đó nâng cao sức sống ngôn ngữ. Việc tiến hành những hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số giúp phổ biến những kiến thức công nghệ, khoa học kĩ thuật hiện đại, giúp tạo thêm việc làm và nâng cao đời sống vật chất cho cộng đồng dân tộc thiểu số. Công việc đó giúp “hiện đại hóa” bản thân chính ngôn ngữ, đồng thời làm cho người dân tộc thiểu số thêm gắn bó với tiếng mẹ đẻ của dân tộc mình hơn. Tuy vậy, cũng có những nhà nghiên cứu đã nhìn thấy những mặt tiêu cực của những hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số.
Đó là bởi: Hiện nay, tại nhiều quốc gia, các chương trình bằng ngôn ngữ quốc gia của dân tộc hoặc bằng ngôn ngữ các dân tộc chiếm thành phần dân cư đa số, cũng là những thành phần khán giả truyền hình đa số. Điều này rõ ràng làm hạn chế việc sản xuất các hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. Tình hình này cũng đang diễn ra ở Việt Nam. Ngay cả bản thân nội dung trong những chương trình phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số, để thu hút những người trẻ nghe thì phần nhiều là những chương trình ca nhạc, những chương trình phim truyện và giải trí.
Do vậy việc sử dụng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trong những chương trình đó là không nhiều. 17 c Và để giải quyết tình trạng này, các nhà khoa học đề xuất rằng các hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số nên được thực hiện theo hướng tiếp cận sinh thái, nghĩa là những hoạt động này cần quan tâm đến những thành tố hình thành môi trường xung quanh mà ngôn ngữ đó được sử dụng và sản xuất các chương trình gắn với sự phát triển bền vững của nhóm dân tộc thiểu số đó. Để những hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số được thuận lợi, dịch thuật là việc làm rất cần thiết. Hiện trên thế giới đang phổ biến hai loại hình dịch thuật các ngôn ngữ các dân tộc thiểu số chính: đó là dịch đuổi, là khi có một chương trình phát thanh truyền hình được phát sóng, người sử dụng ngôn ngữ quốc gia nói đến đâu, sẽ có một người phiên dịch đọc và dịch sang tiếng dân tộc thiểu số ngay đến đấy.
Loại hình thứ hai là khi một chương trình phát thanh truyền hình được phát sóng, người sử dụng ngôn ngữ quốc gia nói đến đâu, trên màn hình sẽ xuất hiện dòng phụ đề bằng tiếng dân tộc thiểu số đến đó. Hiện nay, hoạt động dịch thuật bằng tiếng dân tộc thiếu số trên sóng phát thanh truyền hình hiện đang gặp hai trở ngại lớn. Đó là: Làm sao để dịch đúng, chính xác những cụm từ, đặc biệt là những thuật ngữ từ ngôn ngữ quốc gia sang ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, đặc biệt trong một số lĩnh vực thực sự cần thiết như nông nghiệp, pháp luật. Và làm sao để trong tương lai không xa, xây dựng được một đội ngũ các cán bộ dịch thuật các ngôn ngữ các dân tộc thiểu số không những giỏi về ngôn ngữ mà có trình độ để hiểu và tiến kịp theo những bước phát triển của hoạt động phát thanh - truyền hình hiện nay.
Nhờ có chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, việc phát sóng bằng tiếng dân tộc đã và đang góp phần rất quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy tiếng nói chữ viết của các dân tộc thiểu số. Đây là biện pháp có tác động mạnh, có sức lan tỏa rộng bởi một ngôn ngữ muốn tồn tại và phát triển thì 18 c phải được sử dụng trong giao tiếp, có sức truyền bá trước hết là trong cộng đồng. Việc phát sóng bằng tiếng dân tộc giúp khơi dậy tình yêu của đồng bào với chính tiếng mẹ đẻ của dân tộc mình. Hiện nay, các chương trình phát sóng (phát thanh và truyền hình) bằng tiếng dân tộc đã và đang được mở rộng về số lượng ngôn ngữ, thời lượng phát sóng và nội dung chương trình.