Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam năm 2010 chỉ đạt mức 3,79 trên thang điểm 10, xếp thứ 11 trong số 12 quốc gia châu Á tham gia đánh giá, thấp hơn đáng kể so với Hàn Quốc đạt 6,91 điểm và Malaysia đạt 5,59 điểm. Thực trạng này đặt ra thách thức gay gắt cho tỉnh Hải Dương trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Dù kinh tế địa phương đạt tốc độ tăng trưởng nhanh giai đoạn 2005 - 2010, chất lượng lực lượng lao động tại chỗ vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu của các ngành công nghệ cao và khu công nghiệp tập trung.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao, phân tích thực trạng cung cầu lao động trình độ cao tại Hải Dương giai đoạn 2005 - 2010, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược đến năm 2020. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác định trên địa bàn toàn tỉnh Hải Dương, tập trung vào khía cạnh trí lực, thể lực và cơ cấu chuyên môn kỹ thuật trong mối tương quan với tăng trưởng kinh tế.

Công trình có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách nhân lực của tỉnh. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, phấn đấu nâng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ đạt 85% đến 90% GDP, đồng thời nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 60% vào năm 2020, tạo nền tảng vững chắc để Hải Dương phát triển hiện đại và bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về con người với tư cách là chủ thể sáng tạo, yếu tố trung tâm và quan trọng nhất của lực lượng sản xuất xã hội. Đồng thời, tác giả vận dụng lý thuyết vốn con người và lý thuyết kinh tế tri thức hiện đại. Theo quan điểm của nhà tương lai học Alvin Toffler, tri thức là nguồn lực vô tận, có tính chất lấy không bao giờ hết và càng khai thác hợp lý càng phát triển nhanh chóng. Trong cơ cấu giá trị của các sản phẩm công nghệ cao hiện đại, hàm lượng chất xám chiếm tới 70%, năng lượng chiếm 10%, nguyên liệu chiếm 10%, trong khi thao tác vật chất cơ bắp chỉ chiếm khoảng 5,6%.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, chỉ số phát triển con người HDI và trình độ chuyên môn kỹ thuật. Nguồn nhân lực chất lượng cao được định nghĩa là bộ phận lao động tinh túy nhất của xã hội, sở hữu thể lực dồi dào, trình độ văn hóa vững vàng, tay nghề điêu luyện, phẩm chất đạo đức tốt và khả năng thích ứng linh hoạt với thị trường. Hệ thống đánh giá nguồn nhân lực bao gồm năm nhóm tiêu chí: thể lực với mục tiêu tuổi thọ 75 tuổi và chiều cao trung bình 1,65 m; trình độ văn hóa qua chỉ số giáo dục EDI đạt 0,914; trình độ chuyên môn kỹ thuật; chỉ số HDI đạt trên 0,733; và năng lực ứng dụng ngoại ngữ, công nghệ thông tin.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2010, văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, cùng các báo cáo chuyên đề của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UNESCO và Ngân hàng Thế giới. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực tế với cỡ mẫu gồm 450 đối tượng, bao gồm cán bộ quản lý nhà nước, đại diện doanh nghiệp và người lao động tại các khu công nghiệp trọng điểm trên địa bàn tỉnh.

Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo từng nhóm ngành kinh tế trọng điểm như công nghiệp chế tạo, dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao nhằm đảm bảo tính đại diện toàn diện cho bức tranh lao động địa phương. Tác giả kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh kinh tế và mô hình hóa dữ liệu. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác thực trạng cơ cấu lao động, đánh giá khách quan mối liên hệ giữa chất lượng nguồn nhân lực với tốc độ tăng trưởng kinh tế, đồng thời làm rõ khoảng cách cung cầu kỹ thuật làm căn cứ xây dựng lộ trình giải pháp đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ lao động qua đào tạo tại tỉnh Hải Dương nói riêng và cả nước nói chung còn ở mức thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế tri thức. Đến năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo mới chỉ đạt 24,8%, tăng khiêm tốn 2,2% so với năm 2009. Tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng GDP, dẫn đến tình trạng vừa dư thừa lao động phổ thông, vừa thiếu hụt trầm trọng nhân lực kỹ thuật cao phục vụ các dự án công nghệ cao.

Thứ hai, cơ cấu chuyên môn kỹ thuật bộc lộ sự bất hợp lý sâu sắc theo mô hình thừa thầy thiếu thợ. Tỷ lệ công nhân kỹ thuật lành nghề chỉ đạt 26,6% vào năm 2010, trong khi tỷ trọng người tốt nghiệp đại học, cao đẳng lại chiếm tỷ lệ quá cao nhưng thiếu kỹ năng thực hành nghề nghiệp. Sự mất cân đối này làm suy giảm năng suất lao động thực tế tại các dây chuyền sản xuất công nghiệp.

Thứ ba, các chỉ tiêu về thể lực và kỹ năng bổ trợ của lao động địa phương còn nhiều hạn chế. Chiều cao trung bình của thanh niên 18 tuổi tại Việt Nam năm 2004 ở nam là 161,5 cm và nữ là 151,9 cm, thấp hơn đáng kể so với Nhật Bản có nam đạt 170,4 cm và nữ đạt 157,4 cm. Tỷ lệ lao động đạt chuẩn kỹ năng ngoại ngữ và tin học ứng dụng phục vụ hội nhập quốc tế chỉ chiếm dưới 15% tổng lực lượng lao động công nghiệp.

Thứ tư, áp lực chỉ tiêu đào tạo giai đoạn 2011 - 2020 là rất lớn. Dự báo đến năm 2020, để đáp ứng mục tiêu công nghiệp và dịch vụ chiếm 85% đến 90% GDP, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh bắt buộc phải nâng lên mức 60%, trong đó lao động qua đào tạo nghề phải chiếm tối thiểu 44%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các tồn tại trên xuất phát từ sự thiếu đồng bộ trong chính sách phân luồng giáo dục, mức đầu tư cho cơ sở vật chất đào tạo nghề còn dàn trải và thiếu cơ chế liên kết thực chất giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp. So sánh với các địa phương lân cận như Hà Nội, Bắc Ninh và Đà Nẵng, Hải Dương còn thiếu các gói cơ chế đột phá về nhà ở, phụ cấp thu hút và môi trường nghiên cứu sáng tạo, dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám sang các đô thị lớn.

Về phương thức trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu phân tích trong nghiên cứu có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu ba tầng giữa đại học, trung cấp và dạy nghề, kết hợp biểu đồ đường biểu diễn sự tăng trưởng của chỉ số HDI từ mức 0,608 năm 1990 lên 0,733 năm 2009. Bảng ma trận đối sánh cung cầu nhân lực theo từng ngành công nghiệp mũi nhọn sẽ giúp các cấp quản lý nhận diện trực tiếp những phân khúc tay nghề đang rơi vào tình trạng báo động đỏ để kịp thời điều tiết chỉ tiêu đào tạo.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới căn bản mạng lưới giáo dục và đào tạo nghề nghiệp. Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần chỉ đạo tái cấu trúc hệ thống trường dạy nghề, chuyển dịch trọng tâm từ đào tạo theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 40% vào giai đoạn đầu và đạt 60% vào năm 2020, trong đó lao động đào tạo nghề đạt 44%, hoàn thành triển khai chương trình liên kết đào tạo chuẩn quốc tế trước năm 2018.

Thứ hai, ban hành chính sách đột phá nhằm thu hút và giữ chân nhân tài chất lượng cao ngoài tỉnh. Tỉnh cần xây dựng quỹ hỗ trợ nhà ở công vụ, ưu đãi thuế thu nhập và tài trợ nghiên cứu khoa học với mục tiêu thu hút tối thiểu 1.000 chuyên gia, kỹ sư trưởng và nhà quản lý cao cấp về làm việc tại các khu công nghiệp Hải Dương trong giai đoạn 2012 - 2020, do Sở Nội vụ chủ trì xây dựng đề án.

Thứ ba, triển khai chương trình nâng cao thể lực và chất lượng dân số toàn diện. Sở Y tế chủ trì phối hợp với các cơ quan chuyên môn thực hiện chương trình y tế học đường và dinh dưỡng lao động, hướng đến mục tiêu nâng tuổi thọ bình quân của người dân lên 75 tuổi, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 20 phần nghìn và nâng chiều cao trung bình thanh niên lên 1,65 m vào năm 2020.

Thứ tư, hoàn thiện thị trường lao động và môi trường làm việc văn minh. Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh phối hợp với các doanh nghiệp xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu việc làm số hóa, cải thiện chính sách tiền lương dựa trên hiệu suất công việc và bảo đảm 100% người lao động kỹ thuật cao được tiếp cận môi trường làm việc an toàn, hiện đại trong suốt lộ trình 2011 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư sử dụng tài liệu này làm căn cứ xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực địa phương và chiến lược phân bổ ngân sách đào tạo giai đoạn 2011 - 2020.

Nhóm các cơ sở giáo dục đại học và dạy nghề: Ban giám hiệu, phòng đào tạo của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề trên địa bàn tỉnh Hải Dương và khu vực Đồng bằng sông Hồng áp dụng mô hình dự báo cung cầu để tái cấu trúc chương trình đào tạo, xóa bỏ tình trạng thừa thầy thiếu thợ.

Nhóm doanh nghiệp và tổ chức kinh tế: Các giám đốc nhân sự, nhà quản lý doanh nghiệp trong và ngoài nước tại các khu công nghiệp Hải Dương tham khảo để thiết lập khung tiêu chuẩn năng lực, chính sách đãi ngộ giữ chân nhân tài và quy trình đào tạo nội bộ tối ưu hóa năng suất.

Nhóm học giả, giảng viên và sinh viên sau đại học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế lao động và Quản trị nhân lực khai thác làm tài liệu tham khảo học thuật về phương pháp luận nghiên cứu nguồn nhân lực cấp tỉnh và ứng dụng lý thuyết vốn con người vào thực tiễn Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò như thế nào trong nền kinh tế tri thức? Trong nền kinh tế hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quyết định khi hàm lượng chất xám chiếm tới 70% giá trị sản phẩm cao cấp, trong khi nguyên liệu và năng lượng chỉ chiếm khoảng 10% mỗi loại. Đây là nguồn vốn con người có khả năng tái sinh và tạo giá trị gia tăng không giới hạn cho tăng trưởng kinh tế.

Chỉ số phát triển con người HDI của Việt Nam biến động ra sao trong giai đoạn nghiên cứu? Chỉ số HDI của Việt Nam ghi nhận sự tiến bộ bền bỉ, tăng từ 0,608 xếp hạng 74 trên 130 nước vào năm 1990, lên 0,704 năm 2005 và đạt 0,733 xếp thứ 116 trên 182 quốc gia vào năm 2009. Sự cải thiện này phản ánh rõ nét thành tựu về tuổi thọ và tỷ lệ phổ cập giáo dục.

Tại sao cơ cấu đào tạo tại Hải Dương xuất hiện hiện tượng thừa thầy thiếu thợ? Nguyên nhân chủ yếu do tâm lý chuộng bằng cấp đại học khiến quy mô đào tạo lý thuyết tăng nhanh, trong khi công tác đào tạo nghề kỹ thuật chỉ chiếm 26,6% năm 2010. Do đó, thị trường thiếu hụt nghiêm trọng công nhân bậc cao trực tiếp vận hành công nghệ sản xuất hiện đại.

Mục tiêu cụ thể về nâng cao thể lực nguồn nhân lực đến năm 2020 là gì? Chiến lược quốc gia và định hướng của tỉnh đề ra mục tiêu nâng tuổi thọ trung bình lên 75 tuổi, giảm tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi từ 32 phần nghìn năm 2010 xuống 20 phần nghìn năm 2020 và nâng chiều cao trung bình của thanh niên đạt 1,65 m.

Hải Dương có thể rút ra bài học gì từ các tỉnh lân cận về thu hút nhân lực? Kinh nghiệm từ Bắc Ninh, Đà Nẵng và Hà Nội cho thấy Hải Dương cần ban hành ngay chính sách hỗ trợ nhà ở công vụ, đãi ngộ tài chính vượt trội và tạo lập môi trường làm việc tự chủ học thuật, kết hợp đặt hàng đào tạo trực tiếp cho khu công nghiệp.

Kết luận

Năm điểm cốt lõi đúc rút từ công trình nghiên cứu bao gồm:

  • Nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực trung tâm quyết định sự thành bại của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại tỉnh Hải Dương.
  • Thực trạng nhân lực giai đoạn 2005 - 2010 bộc lộ điểm nghẽn lớn với tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 24,8% cùng cơ cấu tay nghề mất cân đối.
  • Mục tiêu chiến lược đến năm 2020 đòi hỏi tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh phải đạt 60%, trong đó đào tạo nghề kỹ thuật chiếm 44%.
  • Giải pháp phát triển phải kết hợp đồng bộ giữa nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc thể lực và hoàn thiện cơ chế thu hút nhân tài.
  • Liên kết ba nhà gồm chính quyền, nhà trường và doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết bảo đảm tính khả thi của quy hoạch nhân lực.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hệ thống hóa cơ sở khoa học của kinh tế chính trị về vốn con người và cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chuẩn xác cho quản trị lao động tỉnh Hải Dương. Các cấp lãnh đạo ngành và doanh nghiệp cần khẩn trương số hóa quy hoạch nhân lực, phê duyệt các đề án ưu đãi tài năng cho giai đoạn tiếp theo. Độc giả và các nhà nghiên cứu hãy cùng khai phóng tiềm năng tri thức, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự phồn vinh của quê hương Hải Dương.