CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm trong khám, chữa bệnh Các quy định liên quan đến công tác khám chữa bệnh đã được thể chế hoá tại Luật khám chữa bệnh số 15/2023/QH15 ngày 09/01/2023 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [21]. Khám bệnh (KB): Là việc người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên môn để đánh giá sức khoẻ, nguy cơ đối với sức khoẻ và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ (CSSK) của người bệnh. Chữa bệnh: Là việc người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên môn để giải quyết tình trạng bệnh, ngăn ngừa sự xuất hiện, tiến triển của bệnh hoặc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người bệnh trên cơ sở kết quả khám bệnh.
Người bệnh (NB): Là người sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh (KCB) Người hành nghề KCB: Là người đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Cơ sở KCB: Là cơ sở đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp cho cơ sở có đủ điều kiện hoạt động KCB theo quy định của Luật khám chữa bệnh. Cập nhật kiến thức y khoa liên tục: Là việc bổ sung kiến thức, kỹ năng về y khoa phù hợp với phạm vi hành nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế. Hội chẩn: Là việc thảo luận giữa một nhóm người hành nghề về tình trạng bệnh của người bệnh để chẩn đoán và đưa ra phương pháp chữa bệnh phù hợp, kịp thời.
Khám sức khoẻ: Là việc khám bệnh để xác định tình trạng sức khoẻ, phân loại sức khoẻ hoặc phát hiện, quản lý bệnh. Sự cố y khoa: Là tình huống không mong muốn hoặc bất thường xảy ra trong quá trình KCB do yếu tố khách quan, chủ quan. Tai biến y khoa: Là sự cố y khoa gây tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng của người bệnh do một trong các nguyên nhân sau đây: Rủi ro ngoài ý muốn mặc dù người hành nghề đã tuân thủ các quy định về chuyên môn kỹ thuật trong KCB; sai sót chuyên môn kỹ thuật. Tổng quan về quy trình khám bệnh tại khoa Khám bệnh của Bộ Y tế Quy trình khám bệnh tại khoa Khám bệnh, ngày 22 tháng 4 năm 2013 đã được Bộ Y tế ban hành Quyết định số 1313/QĐ-BYT về việc ban hành hướng dẫn quy trình khám bệnh tại khoa Khám bệnh [2].2 Quy trình khám bệnh Bước 1: Tiếp đón người bệnh Bước 2: Khám lâm sàng và cận lâm sàng (nếu có chỉ định) và chẩn đoán Bước 3: Thanh toán viện phí Bước 4: Phát và lĩnh thuốc 1.2 Các giải pháp cải tiến quy trình khám bệnh tại bệnh viện 1.1 Các giải pháp tổng thể của bệnh viện - Cải tạo cơ sở hạ tầng khoa Khám bệnh - Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin - Nhân lực đủ và có chất lượng - Bổ sung các trang thiết bị cần thiết tại khoa Khám bệnh - Xây dựng phương án đáp ứng linh hoạt 1.2 Các giải pháp cải tiến cụ thể tại các bộ phận tham gia quy trình khám bệnh - Tiếp đón người bệnh: + Khuyến khích sử dụng máy phát số tự động.
+ Bệnh viện không để người bệnh tự photo giấy tờ tùy thân, thẻ bảo hiểm y tế, giấy chuyển viện. Nếu có nhu cầu, bệnh viện tự thực hiện (áp dụng cho bệnh viện đã thu viện phí theo khung giá mới). + Có đội ngũ nhân viên hướng dẫn người bệnh thuộc phòng (tổ) Công tác xã hội. + Bố trí đủ quầy tiếp đón với sự phối hợp giữa bộ phận tiếp đón, thu viện phí và hướng dẫn thủ tục bảo hiểm y tế.
+ Bố trí đủ bàn và người hướng dẫn người bệnh tại khoa khám bệnh. + Đặt lịch hẹn khám qua điện thoại, qua tổng đài, qua mạng internet. 5 + Công khai giờ khám bệnh, quy trình khám bệnh, bảng giá viện phí, đối tượng ưu tiên. + Có sơ đồ khoa khám bệnh.
- Khám lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán, chỉ định điều trị + Ứng dụng bảng số điện tử, bảng thông báo điện tử. + Phiếu hẹn giờ trả kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh. + Kết nối vi tính khoa xét nghiệm với phòng khám để khi làm xong kết quả xét nghiệm các Bác sỹ ở phòng khám có thể in ngay được kết quả xét nghiệm. - Thu viện phí, trả thẻ bảo hiểm y tế + Bố trí nhiều quầy thu viện phí.
+ Ứng dụng thẻ thanh toán điện tử. - Phát và lĩnh thuốc + Kết nối bộ phận cấp phát thuốc với khoa dược, buồng khám tạo thuận lợi cho công tác dược lâm sàng và chủ động trong cấp - phát thuốc. + Sắp xếp nơi cấp phát thuốc trật tự, ngăn nắp, theo nhóm thuốc chuyên khoa.3 Chỉ tiêu phấn đấu 1.1 Thời gian khám bệnh - Khám lâm sàng đơn thuần: Thời gian khám trung bình dưới 2 giờ. - Khám lâm sàng có làm thêm 01 kỹ thuật xét nghiệm/chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng (xét nghiệm cơ bản, chụp x-quang thường quy, siêu âm).
Thời gian khám trung bình dưới 3 giờ. - Khám lâm sàng có làm thêm 02 kỹ thuật xét nghiệm/chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng (xét nghiệm cơ bản, chụp x-quang thường quy, siêu âm). Thời gian khám trung bình dưới 3,5 giờ. - Khám lâm sàng có làm thêm 03 kỹ thuật xét nghiệm/chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng (xét nghiệm cơ bản, chụp x-quang thường quy, siêu âm).
Thời gian khám trung bình dưới 4 giờ.2 Lưu lượng khám Trung bình mỗi phòng khám chỉ khám tối đa 50 người bệnh/8 giờ và phấn đấu chỉ khám 35 người bệnh/8 giờ. Trong trường hợp số lượng người bệnh tăng đột biến do các nguyên nhân khác nhau thì phấn đấu tối đa mỗi buồng khám không tăng quá 30% chỉ tiêu trên. Khái quát chung về sự hài lòng và chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh 1.1 Sự hài lòng Khái niệm về sự hài lòng của người bệnh có nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sự hài lòng là sự khác biệt giữa kì vọng của NB và cảm nhận thực tế nhận được.
Theo Zeithaml & Bitner (2000), sự hài lòng của người bệnh là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay một dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của họ [51]. Hài lòng, mãn nguyện hay thỏa mãn là một trạng thái cảm xúc thỏa mãn có thể được xem là trạng thái tinh thần, có thể có được từ sự thoải mái trong tình huống, cơ thể và tâm trí của một người [37]. Theo Bhanu Prakash (2010) sự hài lòng của NB là một chỉ số quan trọng và được sử dụng phổ biến để đo lường chất lượng CSSK. Sự hài lòng NB ảnh hưởng đến kết quả lâm sàng, thu hút người bệnh, khiếu nại về sai sót y khoa.
Và ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ CSSK có chất lượng kịp thời, hiệu quả và lấy NB làm trung tâm hay không. Do đó, sự hài lòng của NB là một đại diện nhưng là một chỉ số rất hiệu quả để đo lường sự thành công của cán bộ Y tế và cơ sở Y tế [45]. Theo Risos – Risquez (2016) sự hài lòng của người bệnh được coi là thước đo mức độ tương tác giữa các chuyên gia CSSK và người sử dụng dịch vụ [48]. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về sự hài lòng, song các quan điểm đều có điểm thống nhất.
Đó là lợi ích thực tế nhận được và những kỳ vọng. Nếu lợi ích thực tế không như kỳ vọng thì khách hàng sẽ không hài lòng. Còn nếu lợi ích thực tế đáp ứng với kỳ vọng đã đặt ra thì khách hàng sẽ hài lòng. Nếu lợi ích thực tế cao 7 hơn kỳ vọng của khách hàng thì sẽ tạo ra hiện tượng hài lòng cao hơn hoặc là hài lòng vượt quá mong đợi [25].
Sự hài lòng của NB là một chỉ số thiết yếu dùng để đo lường chất lượng dịch vụ CSSK. Do đó, việc đánh giá mức độ hài lòng của NB khi đến khám tại Trung tâm Y tế là rất cần thiết khi đánh giá chất lượng dịch vụ CSSK [33].2 Chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh Dịch vụ y tế (DVYT) bao gồm tất cả các dịch vụ liên quan đến chẩn đoán và điều trị bệnh hay dịch vụ khám chữa bệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng, bao gồm những dịch vụ liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến con người, dịch vụ y tế là kết quả cụ thể của bất kỳ hệ thống y tế nào. Nói đến cung cấp dịch vụ tức là nói đến những biện pháp mà các nhà cung cấp dịch vụ áp dụng để kết hợp các nguồn lực đầu tư như tiền, con người, trang thiết bị và thuốc nhằm cung cấp các dịch vụ, can thiệp y tế. Để cải thiện sự tiếp cận, độ bao phủ và chất lượng dịch vụ, các nhà quản lý y tế cần dựa vào những nguồn lực đầu ra, dựa vào cách thức tổ chức và hệ thống quản lý các dịch vụ y tế và dựa vào việc động viên, khuyến khích người cung cấp và người sử dụng dịch vụ [31].
Chất lượng khám chữa bệnh là mức độ mà DVYT cung cấp cho cá nhân hoặc cộng đồng có thể làm tăng khả năng đạt được kết quả về sức khoẻ mong đợi và phù hợp với kiến thức về chuyên môn hiện hành [10]. Theo Gronroos (1984), chất lượng khám, chữa bệnh thường bao gồm hai thành phần: Chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Chất lượng kỹ thuật là sự chính xác trong kỹ thuật chẩn đoán và điều trị bệnh. Chất lượng chức năng bao gồm các đặc tính như: Cơ sở vật chất bệnh viện, giao tiếp, ứng xử của nhân viên y tế, cách thức tổ chức quy trình khám chữa bệnh, cách thức bệnh viện chăm sóc người bệnh [40].3 Đo lường sự hài lòng người bệnh về chất lượng khám, chữa bệnh Có nhiều công cụ (thang đo) khác nhau dùng để đo lường và đánh giá chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh.
Tùy loại dịch vụ có đặc điểm, đặc trưng riêng mà chúng ta có thể chọn lựa và áp dụng thang đo phù hợp. 8 Đo lường hài lòng cũng là một thành tố tạo nên chất lượng bệnh viện. Sự hài lòng của người bệnh là tài sản vô hình của bệnh viện, sự hài lòng của người bệnh tỷ lệ thuận với sự phát triển của bệnh viện. Việc đo lường sự hài lòng của người bệnh nhằm xác định xem người bệnh đón nhận dịch vụ với thái độ tích cực hay tiêu cực, ngoài ra còn biết được những mong đợi của người bệnh về dịch vụ và chất lượng dịch vụ [49].