Nghiên cứu về STR và ứng dụng trong giám định ADN tại Hà Giang, Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cơ sở dữ liệu tần số allele 22 locus đa hình STR trên NST thường ở quần thể người Mông tại Hà Giang, Việt Nam.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Khoa Baylor

Chuyên ngành

Di truyền học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu

2025

90
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về đoạn lặp ngắn ngẫu nhiên – STR

1.1.1. Short tandem repeat – STR

1.1.2. STR là gì

1.1.3. Các chỉ thị STR thiết yếu

1.1.4. Lịch sử nghiên cứu và phát triển của phương pháp giám định gen trong khoa học hình sự

1.1.5. Đột biến ở STR

2. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên vật liệu

2.2. Địa điểm thu mẫu. Thu thập và bảo quản

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Khuếch đại đoạn gen

2.3.2. Tính toán tần số và các chỉ số pháp y

2.3.3. Xác định mối liên hệ giữa quần thể người Mông tại Hà Giang và các quần thể khác

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả thu mẫu và khuếch đại ADN

3.2. Kết quả tính tần số các locus và xác định các allele có tần số thấp

3.3. Kết quả phân tích thống kê

3.3.1. Kiểm định cân bằng Hardy-Weinberg

3.3.2. Gía trị dị hợp tử mong đợi và quan sát được

3.3.3. Kiểm tra tính di truyền liên kết của các locus STR

3.3.4. Kết quả phân tích các chỉ số pháp y

3.3.4.1. Chỉ số khả năng trùng hợp ngẫu nhiên - Match probability (MP)
3.3.4.2. Chỉ số khả năng loại trừ - Power of Exclusion
3.3.4.3. Chỉ số khả năng phân biệt – Discrimination capacity
3.3.4.4. Chỉ số đa hình - Polymorphic information content
3.3.4.5. Chỉ số Parternity index – PI
3.3.4.6. Các chỉ số pháp y đánh giá tần số các allele của một quần thể

3.4. Kết quả phân tích mối tương quan di truyền với các quần thể khác

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Kết quả khuếch đại các locus STR của mẫu đối chứng dương

Phụ lục 2. Kết quả khuếch đại các locus STR của mẫu đối chứng âm

Phụ lục 3. Kết quả kiểm định Chi-square các cặp locus về lingkage disequilirium

Phụ lục 4. Thông tin các mẫu tham gia đề tài

Tóm tắt

I. Tổng quan về STR và ứng dụng trong giám định ADN tại Hà Giang

Nghiên cứu về STR (Short Tandem Repeat) và ứng dụng của nó trong giám định ADN tại Hà Giang đang trở thành một lĩnh vực quan trọng trong khoa học hình sự. STR là các đoạn trình tự ngắn được lặp lại trong ADN, có vai trò quan trọng trong việc xác định danh tính cá nhân. Tại Hà Giang, việc nghiên cứu và ứng dụng STR không chỉ giúp giải quyết các vụ án hình sự mà còn góp phần vào việc bảo tồn di sản văn hóa và di truyền của các dân tộc thiểu số.

1.1. STR là gì và vai trò của nó trong giám định ADN

STR là các đoạn ADN ngắn, thường từ 2 đến 7 nucleotide, được lặp lại nhiều lần. Chúng có tính đa dạng cao và được sử dụng rộng rãi trong phân tích ADN. STR giúp xác định danh tính cá nhân trong các vụ án hình sự, đặc biệt là trong các trường hợp phức tạp.

1.2. Tình hình nghiên cứu STR tại Hà Giang

Tại Hà Giang, nghiên cứu về STR đang được triển khai mạnh mẽ. Các nhà khoa học đã thu thập dữ liệu về tần số allele của các locus STR trong quần thể người Mông. Điều này không chỉ phục vụ cho công tác giám định pháp y mà còn giúp hiểu rõ hơn về di truyền học của các dân tộc tại đây.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu STR tại Hà Giang

Mặc dù nghiên cứu về STR tại Hà Giang đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Địa hình khó khăn và sự phân bố dân cư thưa thớt là những yếu tố cản trở việc thu thập mẫu ADN. Hơn nữa, việc thiếu hụt cơ sở dữ liệu về tần số allele trong các quần thể dân tộc thiểu số cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Khó khăn trong việc thu thập mẫu ADN

Địa hình miền núi và sự phân bố dân cư không đồng đều tại Hà Giang gây khó khăn trong việc thu thập mẫu ADN. Nhiều khu vực khó tiếp cận, dẫn đến việc thiếu dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu.

2.2. Thiếu hụt cơ sở dữ liệu về tần số allele

Việc thiếu hụt cơ sở dữ liệu về tần số allele trong các quần thể dân tộc thiểu số tại Hà Giang làm giảm khả năng phân tích và so sánh di truyền. Điều này ảnh hưởng đến độ chính xác của các kết quả nghiên cứu.

III. Phương pháp nghiên cứu STR trong giám định ADN

Nghiên cứu STR tại Hà Giang sử dụng nhiều phương pháp hiện đại để thu thập và phân tích dữ liệu. Các phương pháp này bao gồm khuếch đại ADN bằng PCR, phân tích tần số allele và kiểm định cân bằng Hardy-Weinberg. Những phương pháp này giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.

3.1. Khuếch đại ADN bằng PCR

Phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction) được sử dụng để khuếch đại các đoạn STR từ mẫu ADN. Phương pháp này cho phép thu được số lượng lớn ADN cần thiết cho phân tích.

3.2. Phân tích tần số allele và kiểm định cân bằng

Sau khi khuếch đại, các allele được phân tích để xác định tần số của chúng trong quần thể. Kiểm định cân bằng Hardy-Weinberg được thực hiện để đánh giá tính di truyền của các locus STR.

IV. Ứng dụng thực tiễn của STR trong giám định ADN tại Hà Giang

Ứng dụng của STR trong giám định ADN tại Hà Giang đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các nghiên cứu đã giúp xác định danh tính trong nhiều vụ án hình sự, đồng thời cung cấp thông tin quý giá cho nghiên cứu di truyền học và bảo tồn văn hóa.

4.1. Xác định danh tính trong các vụ án hình sự

STR đã được sử dụng để xác định danh tính trong nhiều vụ án hình sự tại Hà Giang. Kết quả từ các phân tích ADN đã giúp giải quyết nhiều vụ án phức tạp.

4.2. Cung cấp thông tin cho nghiên cứu di truyền học

Nghiên cứu STR không chỉ phục vụ cho công tác giám định pháp y mà còn cung cấp thông tin quý giá cho nghiên cứu di truyền học và bảo tồn văn hóa của các dân tộc thiểu số tại Hà Giang.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu STR tại Hà Giang

Nghiên cứu về STR và ứng dụng trong giám định ADN tại Hà Giang đang mở ra nhiều cơ hội mới. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu STR cho các quần thể dân tộc thiểu số là cần thiết để phục vụ cho công tác giám định pháp y và nghiên cứu di truyền học trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của việc xây dựng cơ sở dữ liệu STR

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu STR cho các quần thể dân tộc thiểu số tại Hà Giang là rất quan trọng. Nó không chỉ giúp phục vụ cho công tác giám định pháp y mà còn góp phần vào nghiên cứu di truyền học.

5.2. Triển vọng nghiên cứu STR trong tương lai

Nghiên cứu STR tại Hà Giang có triển vọng phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Các công nghệ mới và phương pháp nghiên cứu hiện đại sẽ giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong công tác giám định ADN.

02/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Short tandem repeat - STR là các đoạn trình tự ngắn, được cấu thành bằng sự lặp lại của khoảng 2 – 7 nucleotide. Trong hệ gen của người, các STR nằm rải rác khắp nơi, chúng nằm trong vùng không mã hóa, giữa các gen và chiếm khoảng 3% hệ gen người. Do vị trí đặc thù của STR, chúng có độ đa dạng cao về độ dài và trình tự lặp lại mà không ảnh hưởng đến hoạt động sống của con người. STR có tính bảo thủ cao, được truyền từ bố mẹ sang con cái, vì vậy mà các STR khác nhau giữa các cá thể khác nhau không có quan hệ huyết thống trực hệ.

STR là các chỉ thị phân tử được ứng dụng rộng rãi trong các phân tích khoa học hình sự, cụ thể là công tác xác định danh tính, là công cụ đắc lực trong các vụ án hình sự phức tạp như cưỡng hiếp tập thể hoặc khi các dấu vết còn sót tại hiện trường không đủ cung cấp thông tin cho công tác điều tra [1], [2]. STR cũng được sử dụng trong nghiên cứu di truyền quần thể hay cho mục đích khảo cổ học. Mỗi một quần thể người đều có những đặc trưng sinh học riêng biệt hình thành trong quá trình sống qua nhiều thế hệ, trong đó ở cấp độ ADN, được thể hiện bằng sự phân bố khác nhau về tần suất allele trong mỗi nhóm dân tộc [3]. Việc thu thập dữ liệu STR các dân tộc sinh sống tại Việt Nam đã và đang được triển khai rộng khắp kể từ những năm 2000.

Ngoài ứng dụng trong phân tích gen hình sự, các kết quả khảo sát còn được sử dụng trong nghiên cứu độ đa dạng về mặt nhân chủng học và xây dựng cơ sở dữ liệu về tần số phân bố allele trong quần thể người Việt Nam [4]–[6]. Tuy nhiên, việc thu thập dữ liệu nhiều dân tộc thiểu số vùng cao còn gặp nhiều khó khăn do địa bàn cư trú cách biệt và dân số thấp. Không chỉ vậy, Việt Nam cũng nằm trong vùng địa lý có lịch sử nhân chủng học rất phức tạp, đang còn nhiều tranh cãi về nguồn gốc, con đường hình thành các chủng người hiện đại đang sinh sống đó là khu vực Đông Nam Á [7]–[10]. Do đó nghiên cứu về các quần thể người sinh sống tại Việt Nam nói chung, về người Mông nói riêng còn rất hạn chế và chưa có một nghiên cứu chính thức nào được tiến hành.

Thực trạng đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải xây dựng bộ cơ sở dữ liệu STR cho nhóm dân tộc Mông sinh sống tại Việt Nam nhằm lưu trữ và phục vụ cho truy xuất nguồn gốc, xác định danh tính trong công tác giám định pháp y, 4 cũng như cho công tác nghiên cứu di truyền học, nhân chủng học và bảo tồn tại Việt Nam. Do đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Xây dựng cơ sở dữ liệu về tần số allele 22 locus đa hình STR trên nhiễm sắc thể thường ở quần thể người Mông tại Hà Giang, Việt Nam”, nhằm : i) Xây dựng bộ số liệu tần số allele của 22 locus đa hình STR trên nhiễm sắc thể thường của người Mông; ii) Đánh giá các chỉ số thống kê đặc trưng của tần số allele, chỉ số đa dạng di truyền của quần thể; iii) Xác định mối quan hệ di truyền của người Mông với các quần thể gần gũi khác. Ý nghĩa của nghiên cứu : Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu tần số STR nhiễm sắc thể thường phục vụ cho công tác giám định gen, xác định huyết thống và nghiên cứu đa dạng di truyền quần thể. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Tổng quan về đoạn lặp ngắn ngẫu nhiên – STR 1. Short tandem repeat – STR 1. STR là gì ADN đã được ứng dụng trong thực tế nghiên cứu pháp y từ thế kỉ XX, đi cùng với sự phát triển của công nghệ giải mã hệ gen người. Trong công tác giám định pháp y, dấu hiệu sinh học dựa trên ADN cung cấp rất nhiều thông tin đặc biệt quan trọng và cũng là một bước nhảy của khoa học hình sự.

ADN mang những đặc điểm hóa sinh ưu thế khi mà các dấu vết sinh học khác còn có thể thu thập được ở hiện trường thường rất ít, bị phân hủy nhanh chóng và tiêu tốn thời gian. Hàng nghìn vụ án đã được đưa ra ánh sáng với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ giám định ADN. Hiện nay, đối với giám định ADN trong khoa học hình sự cả trong và ngoài nước thì các chỉ thị short tandem repeats (STR) được sử dụng rất phổ biến do dựa trên phản ứng khuếch đại gen – polymerase chain reaction (PCR), có độ đặc hiệu cao cũng như cho phép thực hiện đối với Hình 1.1 Các locus thuộc bộ CODIS của FBI và vị trí trên NST người 6 các loại mẫu phức tạp. Điển hình các tổ chức lớn như FBI (Federal Bureau of Investigation) đã công bố quy trình thường quy cho sử dụng 13 locus STR (CODIS) (Hình 1.1) hay Interpol cũng xác định bộ 10 locus STR chuẩn cho nước Anh và các nước Châu Âu cho công tác giám định xác định danh tính.

Tại Việt Nam, việc sử dụng STR trong công tác giám định xác định danh tính cũng được sử dụng thường quy tại các viện Pháp y trong cả nước. STR là đoạn trình tự đa hình nằm trong vùng không mã hóa, có cấu trúc gồm các đoạn lặp lại của một trình tự nt có độ dài khoảng 2 – 7 bp, chiếm khoảng 3% hệ gen người. Do nằm ngoài vùng mã hóa, các STR rất đa dạng giữa người với người về độ dài (có thể lên đến hàng nghìn base), trình tự đoạn lặp mà không ảnh hưởng đến hoạt động sinh học của tế bào. Các đoạn lặp lại này nằm rải rác ở khắp nơi trong hệ gen của người.

Từ những năm 1990 đến nay đã có hàng chục nghìn STR trên các nhiễm sắc thể (NST) được phát hiện. Trong quá trình phân bào, các đoạn STR này không bị phân cắt, chúng có tính bảo thủ cao. Ngoại trừ trường hợp song sinh cùng trứng, số lượng lặp lại của các STR là độc nhất cho từng cá thể, được di truyền từ bố mẹ sang con cái và phân biệt các cá thể không có quan hệ huyết thống trực hệ. Do đó các cá thể này sẽ mang bộ số lượng đoạn lặp lại khác nhau của các STR [1], [2].

Bộ chỉ thị gồm nhiều các STR nằm trên các nhiễm sắc thể khác nhau cho phép phân biệt các cá thể riêng biệt, ngay cả với những cá thể có quan hệ họ hàng gần gũi. Đối với nghiên cứu di truyền quần thể, cơ sở di truyền của nghiên cứu dựa trên hai định luật căn bản của di truyền học Mendel đó là định luật di truyền phân ly độc lập và định luật di truyền phân ly. Do đó, các chỉ số về di truyền liên kết cân bằng và cân bằng Hardy-Weinberg được kiểm định đồng thời các phép tính thống kê được sử dụng nhằm tăng tính chính xác, giảm sai số trong phân tích [11]. Trong giám định hình sự, xác định danh tính có thể được hiểu là sự so sánh hồ sơ ADN của một người nào đó, lấy từ mẫu sinh học vương lại hoặc từ 7 các dấu vết như vết máu tại hiện trường của một vụ án với một người khác có mối liên quan nhằm xác định danh tính hoặc loại trừ khả năng.

Phân loại và danh pháp STR được phân loại dựa trên số lượng nucleotide được lặp lại, ví dụ dinucleotide cho 2 nucleotide, trinucleotide cho 3 nucleotide… Tuy nhiên, STR cũng có thể phân loại bằng một vài cách khác dựa trên tính phức tạp của trình tự lặp lại. Các STR đơn giản là các STR cấu thành bởi sự lặp lại của một trình tự nucleotide (ví dụ (GATA)n) hay STR phức là các đoạn được cấu thành bởi sự lặp lại của 2 hoặc nhiều hơn trình tự nucleotide (ví dụ (CG)m– (CA)n). Danh pháp hay tên của từng đoạn STR được đặt theo tên của gen nếu locus này nằm một phần hoặc nằm toàn bộ trong gen. Ví dụ chỉ thị STR TH01 có nguồn gốc từ tên gen tổng hợp enzym tyrosine hydroxylase của người, nằm trên NST số 11.

Chữ "TH" xuất phát từ chữ cái đầu tyrosine hydroxylase. Phần "01" của ký hiệu "TH01" xuất phát từ vùng intron 1 của gen tổng hợp enzym tyrosine hydroxylase. Các trình tự ADN nằm ngoài vùng gen thì được xác định tên bằng vị trí của chúng trên NST. Ví dụ như locus D5S818 hay DYS19 là các locus nằm ngoài vùng gen mã hóa, chữ “D” kí hiệu cho ADN, các kí hiệu tiếp theo lần lượt là NST số 5/ Y cho NST Y; “S” có nghĩa là trình tự chỉ có một bản copy trên genome; con số cuối tên là thứ tự chỉ thị này được phát hiện và sắp xếp theo từng NST cụ thể.

Các chỉ thị STR thiết yếu Đối với công tác giám định, việc sử dụng một bộ các chỉ thị theo một tiêu chuẩn là cần thiết vì sự chính xác và đồng nhất của các kết quả giám định. Bộ các chỉ thị được sử dụng rộng rãi ngày nay đã được nghiên cứu và phát triển ở phòng thí nghiệm của tiến sĩ Thomas Caskey tại Trường đại học Y khoa 8 Baylor cùng với viện Forensic Science Service tại Anh thực hiện vào đầu những năm 1990. Những chỉ thị này được sử dụng nhiều hơn trong các kit xét nghiệm của hãng Promega (Mỹ) so với kit của hãng Applied Biosystems (Mỹ). Bộ kit thương mại được đưa ra thị trường đầu tiên được giới thiệu bởi hãng Promega năm 1994.

Đây là bước nhảy lớn cho ứng dụng rộng rãi của STR trong công tác giám định pháp y. Bộ kit bao gồm các locus CSF1PO, TPOX và TH01, là các chỉ thị dạng “CTT”. Các chỉ thị triplex thường có chỉ số xác xuất trùng hợp ngẫu nhiên chỉ khoảng 1/500 nhưng lại được sử dụng rộng rãi tại Mỹ do đây là bộ kit thương mại đầu tiên cho phép khuếch đại cùng lúc nhiều chỉ thị với chi phí thấp [11]. Vào năm 1990, Cục điều tra liên bang Mỹ - FBI đã khởi động một sự án thăm dò trên tổng cộng 14 bang và phòng thí nghiệm liên quan tại địa phương.

Dự án được biết với tên “The DNA Identification Act” nhằm mục đích xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia cho công tác điều tra án (https://www.gov/services/laboratory/biometric-analysis/codis). Năm 1997, một bộ gồm 13 chỉ thị STR đã được chọn cho dự án xây dựng cơ sở dữ liệu của hệ thống Combined DNA Index System - CODIS. Các chỉ thị bao gồm các locus CSF1PO, FGA, TH01, TPOX, vWA, D3S1358, D5S818, D7S820, D8S1179, D13S317, D16S539, D18S51, và D21S11 (Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ