CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI THỰC HÀNH TRONG ĐỒNG PHẠM 1.1 Khái niệm và đặc điểm của đồng phạm và người thực hành trong đồng phạm. Khái niệm và đặc điểm của đồng phạm. Tội phạm trên thực tế diễn ra hết sức đa dạng, một tội phạm có thể do một người thực hiện hoặc do nhiều người thực hiện. Khi tội phạm do nhiều người thực hiện thì có thể có đồng phạm hoặc là trường hợp những người thực hiện tội phạm hành động độc lập với nhau.
Trong đó trường hợp có đồng phạm nguy hiểm cho xã hội hơn cả. Chính vì vậy mà cơ sở, phạm vi, các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm có những yếu tố khác biệt so với trường hợp phạm tội độc lập do một người thực hiện. Khái niệm đồng phạm là khái niệm cơ bản, khái niệm xuất phát để từ đó xác định các quy phạm khác của chế định đồng phạm về những loại người đồng phạm; các giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm, các hình thức đồng phạm và trách nhiệm hình sự trong đồng phạm. Khái niệm đồng phạm còn là cơ sở pháp lý để phân biệt hành vi đồng phạm và những hành vi liên quan đến tội phạm nhưng không phải là đồng phạm, đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực hình sự nhằm xử lý đúng người, đúng tội, không kết tội oan và không bỏ lọt tội phạm.
Khoản 1 Điều 17 BLHS 2015 quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” Trước hết, với tư cách là một hình thức của tội phạm, đồng phạm có những dấu hiệu chung giống như tội phạm đơn lẻ. Tuy nhiên, đồng phạm là 7 hình thức phạm tội đặc biệt nên những dấu hiệu của nó cũng có những đặc điểm riêng biệt [23, tr.199] Dấu hiệu khách quan: Số lượng người tham gia thực hiện tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Thứ nhất, về số lượng người tham gia thực hiện tội phạm: một vụ án đồng phạm đòi hỏi có ít nhất hai người trở lên cùng tham gia thực hiện một tội phạm. Đây là điều kiện tất yếu vì chỉ khi có ít nhất hai người thì mới gọi là “cùng phạm tội”.
Đồng thời những người này cũng phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện về yếu tố chủ thể của tội phạm nói chung là đủ tuổi chịu TNHS theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 và không thuộc trường hợp không có năng lực TNHS quy định tại Điều 21 BLHS 2015 (không xét trường hợp chủ thể đặc biệt). Nếu có hai người trở lên cùng tham gia thực hiện một tội phạm nhưng chỉ có một người đủ điều kiện về chủ thể thì không được xem là đồng phạm mà chỉ là phạm tội đơn lẻ. Nếu nhiều người cùng tham gia thực hiện tội phạm nhưng trong đó có một vài người đủ điều kiện chủ thể và các dấu hiệu khác của đồng phạm còn những người còn lại không thỏa mãn dấu hiệu về chủ thể thì vẫn là vụ án có đồng phạm nhưng người nào không thỏa mãn dấu hiệu chủ thể thì không phải là người đồng phạm. Đối với trường hợp tội phạm có chủ thể đặc biệt thì chỉ cần người thực hành thỏa mãn các dấu hiệu đặc biệt đó còn những đồng phạm khác không đòi hỏi phải có các dấu hiệu đặc biệt.
Thứ hai, hành vi nguy hiểm cho xã hội: Những người đồng phạm cùng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong mặt khách quan của CTTP cụ thể. Trong quá trình tham gia thực hiện tội phạm, giữa những người đồng phạm có sự liên kết với nhau, thống nhất và tác động qua lại lẫn nhau nhằm đạt được ý định phạm tội chung. Nếu nhiều người thực hiện tội phạm tại cùng một địa điểm, trong cùng một thời điểm nhưng giữa họ không có sự 8 liên kết với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau để cùng thực hiện một tội phạm thì không phải là đồng phạm mà chỉ là phạm tội riêng lẻ. Mỗi người đồng phạm có thể thực hiện các hành vi sau: Hành vi thực hiện tội phạm (thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm), người có hành vi này được gọi là người thực hành; hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, người có hành vi này được gọi là người tổ chức; hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm, người có hành vi này được gọi là người xúi giục; hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm, người có hành vi này được gọi là người giúp sức.
Mỗi người đồng phạm có thể tham gia với một hoặc nhiều loại hành vi nêu trên. Có thể tất cả cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội hoặc mỗi người thực hiện một loại hành vi khác nhau. Họ có thể tham gia ngay từ đầu hoặc ở bất cứ giai đoạn nào khi tội phạm chưa kết thúc. Thứ ba, hậu quả nguy hiểm cho xã hội: việc cùng thực hiện một tội phạm dẫn tới hậu quả gây ra bởi đồng phạm là hậu quả chung, là kết quả của quá trình tham gia thực hiện tội phạm chung tạo nên.
Thứ tư, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả chung: bằng việc tham gia vào tội phạm chung với một trong các hành vi đã nêu trên, mỗi đồng phạm đều có hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội là kết quả của sự phối hợp hoạt động giữa những người đồng phạm mang lại. Do đó hành vi của mỗi người đồng phạm đều có mối quan hệ nhân quả với hậu quả phạm tội chung. Khi các đồng phạm đều là người trực tiếp thực hiện một phần hoặc toàn bộ hành vi khách quan được mô tả trong CTTP (đồng phạm giản đơn) thì hành vi của mỗi người là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả chung của tội phạm. Khi có sự phân chia vai trò giữa các đồng phạm thì hành vi của người thực hành là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã 9 hội, còn hành vi của những người đồng phạm khác sẽ gián tiếp thông qua hành vi của người thực hành mà gây ra hậu quả đó.
Trong các dấu hiệu khác quan nêu trên, dấu hiệu về số lượng người tham gia và dấu hiệu cùng thực hiện tội phạm là bắt buộc đối với mọi vụ án đồng phạm. Hai dấu hiệu còn lại là hậu quả và mối quan hệ nhân quả chỉ bắt buộc đối với các tội phạm có cấu thành vật chất. Dấu hiệu chủ quan: mặt bên trong của tội phạm bao gồm lỗi, mục đích và động cơ phạm tội. Dấu hiệu lỗi cố ý: cố ý cùng thực hiện tội phạm là dấu hiệu đặc trưng thuộc mặt chủ quan của đồng phạm, thể hiện sự liên kết thống nhất về mặt ý chí giữa những người đồng phạm.
Lỗi trong đồng phạm phải là lỗi cố ý, nếu trường hợp hai người trở lên cùng thực hiện tội phạm nhưng với lỗi vô ý thì chỉ là trường hợp phạm tội riêng lẻ. Mỗi người đồng phạm đều biết hành vi của mình có tính nguy hiểm cho xã hội và đều biết hành vi của người khác cũng nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. Nếu chỉ biết mình có hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà không biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm thì chưa thỏa mãn dấu hiệu lỗi cố ý trong đồng phạm và do vậy cũng không có đồng phạm. Bên cạnh đó, các đồng phạm còn phải thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra và hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện.
Nếu mỗi người đồng phạm chỉ biết mình có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình thì chưa thỏa mãn lỗi cố ý trong đồng phạm. Do đó hành vi giúp sức bí mật hay xúi giục ngụy trang không thỏa mãn dấu hiệu chủ quan của đồng phạm. Về ý chí: Đồng phạm là việc người phạm tội có sự bàn bạc, thống nhất trước khi thực hiện tội phạm hoặc có sự tiếp nhận về nhận ý chí tức là sự ăn ý, 10 hiểu ý giữa những người phạm tội mặc dù không có sự bàn bạc, thống nhất trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Mỗi người trong đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Những trường hợp không mong muốn có sự liên kết hành vi để cùng gây ra hậu quả thiệt hại cũng chỉ là trường hợp phạm tội riêng lẻ. Ngoài hai dấu hiệu nêu trên, đồng phạm còn đòi hỏi dấu hiệu cùng mục đích phạm tội trong trường hợp đồng phạm những tội có mục đích phạm tội là dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm. Nếu không có đồng phạm, trong trường hợp này những người tham gia sẽ chịu TNHS độc lập với nhau. Dấu hiệu động cơ phạm tội: cũng tương tự như dấu hiệu mục đích phạm tội, đối với những tội phạm có động cơ phạm tội là dấu hiệu bắt buộc được quy định trong mặt chủ quan của CTTP thì những người đồng phạm về tội đó bắt buộc phải có cùng động cơ phạm tội.
Nếu không cùng động cơ phạm tội thì cũng không phải là đồng phạm. Khái niệm và đặc điểm của người thực hành trong đồng phạm. Từ khái niệm khoa học về đồng phạm nêu trên, có thể hiểu “Người đồng phạm là người cố ý tham gia vào việc thực hiện tội phạm cùng với người khác. Theo quy định tại khoản 3 Điều 17 BLHS 2015: “Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức” Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Tức là bằng hành vi của mình, người thực hành thực hiện những hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm [1, tr. Người thực hành trực tiếp thực hiện tội phạm bao gồm hai trường hợp là: Trường hợp người thực hành tự mình thực hiện hành vi phạm tội được mô tả trong CTTP. Trường hợp người thực hành không tự mình thực hiện hành vi 11 CTTP mà tác động người khác để người này thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP nhưng họ lại không chịu TNHS cùng với người đã tác động. Ở dạng thứ nhất, người thực hành là người tự mình thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP.