CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LÀNG NGHỀ 1. Cơ sở lý luận về làng nghề 1. Khái niệm làng nghề Làng nghề là một bộ phận của kinh tế nông thôn.
Sự phát triển của làng nghề trong những năm gần đây đã và đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân làng nghề. Hiện nay đã có những công trình nghiên cứu về nghề và làng nghề của các nhà sử học, kinh tế, văn hóa với những cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, khái niệm làng nghề được tạo bởi hai chủ thể là làng và nghề. Theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: - Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn.hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, có các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng như mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng [2].
- Làng nghề truyền thống là làng nghề có các hoạt động ngành nghề được hình thành từ lâu đời, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay. Tiêu chí công nhận và phân loại làng nghề 1. Tiêu chí công nhận làng nghề Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn đã đưa ra những tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống như sau: - Nghề truyền thống + Là nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. + Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc.
7 + Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. - Làng nghề Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí sau: + Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. + Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. + Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Làng nghề truyền thống: Là làng đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận. Phân loại làng nghề Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, hiện nay cả nước có tới 2017 làng nghề, riêng đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng nghề [2]. Sản phẩm và phương thức sản xuất của các làng nghề khá phong phú với hàng trăm loại ngành nghề khác nhau. Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo một số dạng [2] như sau: - Phân loại theo phương thức sản xuất và loại hình sản phẩm: + Làng nghề thủ công: Làm ra các mặt hàng sử dụng thường nhật như dao, kéo, mây tre đan gia dụng, chiếu… Đặc điểm của các làng nghề này là sản xuất thủ công bằng tay và các công cụ đơn giản.
Do chi phí thấp nên loại hình này khá phổ biến. + Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Làm ra các mặt hàng có giá trị văn hóa và trang trí như đồ mỹ nghệ chạm khảm, chạm khắc tượng gỗ, đá, các đồ mỹ nghệ bằng bạc, dệt thảm… + Làng nghề công nghiệp: Sản xuất các hàng hóa thành phẩm và bán thành phẩm như sản xuất giấy, dệt, may mặc, gốm sứ, tái chế nhựa, kim loại, thuộc da… + Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm: Chế biến các loại nông sản như xay xát, sản xuất miến dong, bún, bánh, sản xuất bia, nấu rượu, giết mổ vật nuôi, chế biến hoa quả… 8 + Làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên liệu: sản xuất vật liệu xây dựng như gạch, ngói, vôi, cát… + Làng nghề buôn bán và dịch vụ: Thực hiện bán buôn, bán lẻ và cung cấp dịch vụ. - Phân loại theo số lượng làng nghề + Làng một nghề là làng ngoài nghề nông ra chỉ có thêm một nghề phi nông nghiệp xuất hiện, tồn tại và chiếm ưu thế tuyệt đối. + Làng nhiều nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề có tỉ trọng các nghề chiếm ưu thế gần như tương đương nhau.
Loại làng nhiều nghề gần đây mới xuất hiện và có xu hướng phát triển mạnh. - Phân loại theo thời gian làm nghề + Làng nghề truyền thống là những làng nghề có lịch sử phát triển lâu đời với những sản phẩm danh tiếng được giữ gìn và truyền lại qua nhiều thế hệ cho đến ngày nay. + Làng nghề mới hình thành là do yêu cầu phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống trên cơ sở vận dụng các tiềm năng sản xuất của địa phương (chủ yếu là giải quyết vấn đề lao động). Các làng nghề mới hình thành này do còn hạn chế về các điều kiện sản xuất nên sản phẩm của làng nghề thường có chất lượng thấp hoặc ở các công đoạn thô.
- Phân loại làng nghề theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm: Trong những năm gần đây, sự phát triển “nóng” của các làng nghề đã dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều làng nghề trong cả nước. Căn cứ theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm có thể phân ra các nhóm làng [2] nghề sau: + Làng nghề ô nhiễm nặng là làng nghề có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho loại hình làng nghề được xem xét trong dòng thải cao hơn 5 lần 7 TCCP. + Làng nghề ô nhiễm trung bình là làng nghề có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho loại hình làng nghề được xem xét trong dòng thải cao hơn từ 2-5 lần TCCP. 9 + Làng nghề ô nhiễm nhẹ là làng nghề có các thông số môi trường đặc trưng cho loại hình làng nghề được xem xét trong dòng thải không quá 2 lần TCCP.
Phân loại làng nghề theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm nhằm đánh giá đặc trưng và quy mô nguồn thải từ hoạt động sản xuất của các làng nghề. Cách phân loại này đòi hỏi phải có đầy đủ các số liệu về môi trường đất, nước, không khí tại các làng nghề mới đảm bảo độ chính xác. Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo mục đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề môi trường làng nghề, cách phân loại theo phương thức sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả, vì thực tế cho thấy mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu khác nhau về nguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất khác nhau, nguồn và dạng chất thải khác nhau, và vì vậy có những tác động khác nhau đối với môi trường.
Tác động ảnh hưởng của các làng nghề đến môi trường và sức khỏe cộng đồng Không thể phủ nhận những lợi ích kinh tế mà các làng nghề đã và đang đem lại, góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập, đời sống cho nông dân. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển một số làng nghề đã bộc lộ những tồn tại, đặc biệt là hệ lụy về ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng. Tác động của sản xuất làng nghề tới môi trường Theo Báo cáo Hiện trạng Môi trường quốc gia vừa được Bộ TN&MT công bố vào giữa tháng 11/2021, cả nước hiện có 4.575 làng nghề, trong đó có 1.951 làng nghề được công nhận. Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường (BVMT) tại các làng nghề hiện nay chưa được quan tâm đúng mức, rất ít làng nghề có hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn (CTR) cũng như hệ thống xử lý nước thải (XLNT).
Báo cáo công tác BVMT của Bộ NNPT&NT năm 2020 cũng chỉ rõ, có 16,1% làng nghề có hệ thống XLNT tập trung đạt yêu cầu về BVMT; tỷ lệ làng nghề có điểm thu gom CTR công nghiệp chỉ đạt 20,9%. Nước thải từ làng nghề thường thải trực tiếp ra hệ 10 thống kênh, rạch chung, tác động xấu tới cảnh quan, ô nhiễm môi trường. Nhiều làng nghề có lưu lượng nước thải lớn, xả ra các kênh, mương vốn làm nhiệm vụ tiêu thoát nước mưa, dẫn đến nước thải không lưu thông, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Cùng với đó, nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí tại các làng nghề phát sinh chủ yếu từ việc sử dụng than làm nhiên liệu, sử dụng hóa chất trong dây chuyền công nghệ sản xuất.
Trong đó, nhóm làng nghề có thải lượng ô nhiễm lớn nhất là tái chế kim loại, nhựa. Quá trình tái chế và gia công, xử lý bề mặt, phun sơn, đánh bóng bề mặt sản phẩm, nung, sấy, tẩy trắng, khí thải lò rèn…đã làm phát sinh bụi và các khí thải như SO2, NO2 , hơi axit và kiềm. Điển hình là làng nghề tái chế nhựa Trung Văn (Hà Nội), làng nghề đúc đồng Đại Bái (tỉnh Bắc Ninh), làng nghề tái chế nhôm Bình Yên (tỉnh Nam Định)… Đáng chú ý, trong số 47 làng nghề ô nhiễm nghiêm trọng, khu vực miền Bắc có số lượng lớn nhất với 34 làng nghề (chiếm 72,3%), khu vực miền Trung có 11 làng nghề (chiếm 23,4%) và khu vực miền Nam có 2 làng nghề (chiếm 4,3%); trong đó, các làng nghề như: chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ gia súc, gia cầm, quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong nước thải và CTR gây ô nhiễm mùi cũng đã tạo nên các khí ô nhiễm như SO2, NO2, H2S, NH3; làng nghề ươm tơ, dệt, nhuộm vải và thuộc da thường bị ô nhiễm bởi các khí SO2, NO2; làng nghề thủ công mỹ nghệ thường bị ô nhiễm nặng bởi khí SO2 phát sinh từ quá trình xử lý chống mốc cho các sản phẩm. Nguyên nhân là do đặc thù sản xuất, khu vực làng nghề chỉ quan tâm, chú trọng đầu tư vào phát triển sản xuất, nhiều nơi chưa quan tâm thỏa đáng tới vấn đề bảo vệ môi trường và bảo hộ lao động.
Nguồn vốn đầu tư để mở rộng sản xuất, kinh doanh hạn chế, thiết bị công nghệ chế biến thô sơ, số cơ sở sản xuất, kinh doanh áp dụng dây chuyền sản xuất hiện đại còn ít.